|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 777/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/5/2025
V/v tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Nhơn
- Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trân - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Hà Thị Thúy Lan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 0213/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 123/2025/QÐST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn : Bà Dương Thị Mai L, sinh năm 2000 (Có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Đăng H, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: D T, Phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
HKTT: 66/37D Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 21, quận Bình Thạnh, TPHCM
Cư trú: 801/3A Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và các bản trình bày ý kiến và các biên bản hòa giải, làm việc tại Tòa án, nguyên đơn, bà Dương Thị Mai L trình bày: Bà và ông Nguyễn Hữu Đăng H đã tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân từ năm 2024, có đăng ký kết hôn, giấy chứng nhận kết hôn số 53/2024 ngày 29/3/2024 do UBND quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc khoảng 02 tháng thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, công việc của hai bên đều bận rộn, không có thời gian chăm sóc quan tâm nhau, đến thời điểm hiện tại hai bên không còn tin tưởng lẫn nhau, cả hai vợ chồng đều không muốn có con chung với nhau. Hai bên đã cùng ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn và tìm ra hướng giải quyết nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung và mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng. Bà và ông H đã ly thân được 06 tháng. Hiện nay bà nhận thấy vợ chồng đều không còn tình cảm với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng đoàn tụ không có nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu Đăng H.
Về con chung: Bà và ông H không có con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Đăng H vắng mặt, không gửi đến Tòa án tài liệu chứng cứ và bản ghi ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai bên đoàn tụ nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mai L có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Nguyễn Hữu Đăng H. Về con chung: Không có.Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu Đăng H vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn chưa thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 19, 51, 56, 58, 107 Luật Hôn nhân gia đình đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Mai L được ly hôn ông Nguyễn Hữu Đăng H. Về con chung: Không có.Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí: Bà L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì giữa các bên đã phát sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét việc khởi kiện của bà Dương Thị Mai L phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Mai L yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Hữu Đăng H.
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2024, ngày 29/3/2024 Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.
Xét lời khai của bà L cho thấy, sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hạnh phúc chỉ khoảng 02 tháng thì hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, công việc của hai bên đều bận rộn, không có thời gian chăm sóc quan tâm nhau, đến thời điểm hiện tại hai bên không còn tin tưởng lẫn nhau, cả hai vợ chồng đều không muốn có con chung với nhau, hai bên đã cùng ngồi lại để giải quyết mâu thuẫn và tìm ra hướng giải quyết nhưng vẫn không tìm được tiếng nói chung và mâu thuẫn ngày càng thêm trầm trọng. Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã động viên bà L cho ông H thêm cơ hội, đồng thời tống đạt trực tiếp giấy triệu tập nhiều lần để mời ông H đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải đoàn tụ, nhưng không H không đến Tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu cũng như các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà L, cho thấy ông H không có thiện chí hòa giải, không có mong muốn đoàn tụ. Như vậy, mâu thuẫn giữa ông H và bà L là trầm trọng, hai ông bà đã sống ly thân trên 06 tháng và việc hai bên đều không muốn có con chung cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản: Tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật và có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Dương Thị Mai L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 19, 51, 56, Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điều 26 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Dương Thị Mai L
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Dương Thị Mai L được ly hôn ông Nguyễn Hữu Đăng H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 53/2024 ngày 29/3/2024 của Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật.
1.2 Về con chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
1.3 Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí sơ thẩm:
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Dương Thị Mai L phải chịu, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0054781 ngày 18/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cấn trừ, bà L đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Trang |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Nguyễn Kiều Trang |
Bản án số 777/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 777/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Thị Mai L ly hôn Nguyễn Hữu Đăng H, không có con chung, không có tài sản chung
