|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
|
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 777/2025/DS-PT | |
| Ngày: 17-11-2025 | |
| V/v tranh chấp về dân sự nợ hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Dũng.
Ông Nguyễn Phú Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Võ Thị Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 30 tháng 10 và ngày 17 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 430/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về dân sự nợ hụi”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 512/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 10 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 152/2025/QĐPT-DS ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Q, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Văn Q: Ông Đặng Chí H, sinh năm 1985, địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; là người đại diện theo ủy quyền.
- Bị đơn:
-
Ông Lê Phước H1, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Số nhà 679, ấp Trung, xã Tân Thạnh, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
-
Bà Trương Thị Thúy M, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Số nhà F, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị D, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Đặng Chí H, bà Trương Thị Thúy M và ông Lê Phước H1 có mặt tại phiên tòa.
Bà Lê Thị D vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Phạm Văn Q có người đại diện theo ủy quyền là ông Đặng Chí H trình bày:
Trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến năm 2017, ông Q (tên gọi khác là H2, Hùng R) có tham gia chơi 03 dây hụi do bà M làm chủ hụi, bao gồm:
- Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 25/01/2015 âm lịch, 01 tháng khui một lần, gồm 26 hụi viên, ông Q tham gia 02 chân tại số T, 17 tên “HÙNG RAU".
- Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 09/4/2016 âm lịch, 01 tháng khui một lần, gồm 30 hụi viên, ông Q tham gia 02 chân tại số thứ tự 6, 7 tên “CHỊ 4 HÙNG”, do bà M gọi mẹ ông Q là bà Lê Thị D là chị 4, còn ông Q tên gọi khác là H2, nên bà M ghi tên người chơi hụi là Chị 4 H2.
- Dây hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 15/01/2017 âm lịch, nửa tháng khui một lần, gồm 32 hụi viên, ông Q tham gia 03 chân tại số thứ tự 10, 11, 12 tên “HÙNG”.
Đến khoảng tháng 01/2018 âm lịch thì bà M tuyên bố vỡ hụi. Ông Q và bà M có cùng tính toán và thống nhất tiền hụi, cụ thể như sau:
- Dây hụi 5.000.000 đồng, khui ngày 25/01/2015 âm lịch, khi bà M vỡ hụi thì ông Q đã hốt hụi xong, dây hụi đã mãn; nhưng ông Q vẫn còn thiếu bà M tiền hụi chết 01 lần x 02 chân x 5.000.000 đồng/chân = 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
- Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 09/4/2016 âm lịch, khi vỡ hụi thì bà M đã khui hụi được 23 lần, ông Q chưa hốt hụi nên bà M còn thiếu ông Q số tiền: 23 lần x 2 chân x 2.000.000 đồng/chân = 92.000.000 đồng.
- Dây hụi 1.000.000 đồng, khui ngày 15/01/2017 âm lịch, khi bà M vỡ hụi thì ông Q đã hốt hết 03 chân và dây hụi đã khui được 26 lần, còn lại 06 lần, nên ông Q còn thiếu bà M tiền hụi chết 06 lần x 3 chân x 1.000.000 đồng/chân = 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Sau khi cấn trừ tiền hụi chết, hụi sống nêu trên thì bà M còn thiếu ông Q số tiền hụi là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng). Trong thời gian đóng hụi diễn ra, bà M có đi buôn bán xoài ở Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Lê Phước H1 là chồng bà M ở nhà đã tổ chức khui hụi và đi gom tiền hụi thay cho bà M; do đó tiền hụi bà M thiếu ông Q là nghĩa vụ tài sản của bà M và ông Phước H1 trong thời kỳ hôn nhân.
Nay ông Phạm Văn Q yêu cầu ông Lê Phước H1 và bà Trương Thị Thúy M chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Q số tiền số tiền nợ hụi là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).
- Bị đơn ông Lê Phước H1, có người đại diện theo ủy quyền là bà Trịnh Thanh T trình bày:
Trước đây, bà M có làm chủ hụi, nhưng bà M mở bao nhiêu dây hụi, mở vào thời gian nào, mỗi dây hụi gồm có bao nhiêu thành viên thì ông Phước H1 không năm rõ. Ông Phước H1 xác định ông Phạm Văn Q (tên thường gọi là H2) trước đây có chơi hụi do bà M làm chủ hụi, nhưng ông Q tham gia dây hụi nào, đóng hụi và thỏa thuận thiếu tiền hụi như thế nào với bà M thì ông P H1 không nắm rõ. Khi bà M còn làm chủ hụi thì bà M có đi buôn bán xoài ở Thành phố Hồ Chí Minh; ông Phước H1 ở nhà đã tổ chức khui hụi và đi gom tiền hụi thay cho bà M, nhưng ông P H1 không có giao tiền hốt hụi nào ông Q. Nay ông Phước H1 không xác định được bà M còn thiếu ông Q bao nhiêu tiền. Ông Phước H1 và bà M đã ly hôn theo quy định pháp luật vào cuối năm 2024.
Tại phiên hòa giải, ông Phước H1 ý kiến: Trường hợp bà M xác định bà M còn thiếu ông Q bao nhiêu tiền thì ông P H1 đồng ý cùng với bà M chịu trách nhiệm liên đới trả tiền cho ông Q.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của ông Phước H1 ý kiến: Trường hợp xác định được bà M còn thiếu ông Q tiền hụi là bao nhiêu thì ông Phước H1 chỉ đồng ý chịu trách nhiệm trả cho ông Q ½ số nợ, còn ½ số nợ còn lại là trách nhiệm của bà M, do ông Phước H1 và bà M đã ly hôn.
- Bị đơn bà Trương Thị Thúy M: Bà M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa hòa giải 02 lần, thông báo về việc yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà M vắng mặt không có lý do, không cung cấp văn bản ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q, cũng không tham dự phiên họp – hòa giải 02 lần và phiên tòa 02 lần nên Tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của bà M đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị D1 vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến: Ông Lê Phước H1, bà Trương Thị Thúy M là bà con với bà D và gọi bà D là chị T1; con của bà D là ông Phạm Văn Q, có tên gọi khác là H2. Ông Q có tham gia chơi dây hụi khui ngày 09/4/2016, hụi 2.000.000 đồng, có 30 phần, do bà M là chủ hụi. Bà M ghi tên hụi viên là “Chị 4 H2” nhưng thực tế ông Q là người tham gia và đóng hụi. ông Q đóng đến lần thứ 23 thì bà M tuyên bố vỡ hụi nên ông Q và bà M có thỏa thuận cấn trừ các dây hụi mà ông Q đang tham gia, kết quả bà M còn thiếu ông Q số tiền 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng). Ông Phước H1 và bà M hứa trả dần cho ông Q nhưng đến nay vẫn không trả.
- Người làm chứng bà Phạm Thị R1 vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến: Bà Phạm Thị R1 có tham gia các dây hụi khui ngày 25/01/2015 âm lịch, khui ngày 09/4/2016 âm lịch, khui ngày 15/01/2017 âm lịch nêu trên cùng ông Phạm Văn Q (tên gọi khác là H2, Hùng R), do bà M làm chủ hụi. Nhưng bà R1 không biết ông Q đã hốt bao nhiêu chân hụi, còn sống bao nhiêu chân hụi tại thời điểm bà M vỡ hụi, cũng không biết bà M còn thiếu ông Q số tiền hụi là bao nhiêu.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Tường V vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến: Bà Nguyễn Thị Tường V có tham gia các dây hụi khui ngày 25/01/2015 âm lịch, khui ngày 09/4/2016 âm lịch nêu trên cùng ông Phạm Văn Q (tên gọi khác là H2, Hùng R), do bà M làm chủ hụi. Nhưng bà V không biết ông Q đã hốt bao nhiêu chân hụi, còn sống bao nhiêu chân hụi tại thời điểm bà M vỡ hụi. Gần tết năm 2025 âm lịch, khi gặp mặt thì bà M có nói với bà V là bà M còn thiếu ông Q tiền hụi là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt, có văn bản trình bày ý kiến: Bà Nguyễn Thị Đ có tham gia các dây hụi khui ngày 25/01/2015 âm lịch, khui ngày 09/4/2016 âm lịch nêu trên cùng ông Phạm Văn Q (tên gọi khác là H2, Hùng R), do bà M làm chủ hụi. Nhưng bà Đ không biết ông Q đã hốt bao nhiêu chân hụi, còn sống bao nhiêu chân hụi tại thời điểm bà M vỡ hụi, cũng không biết bà M còn thiếu ông Q số tiền hụi là bao nhiêu.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Q.
Buộc ông Lê Phước H1 và bà Trương Thị Thúy M chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Phạm Văn Q số tiền hụi còn nợ là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Ngoài ra, bản án tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Trương Thị Thúy M yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, lý do trong các dây hụi bà M làm chủ hụi, không có hụi viên là Phạm Văn Q nên việc Tòa án buộc bà M phải trả tiền hụi còn nợ cho ông Phạm Văn Q1 là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Lê Phước H1 và bà Trương Thị Thúy M chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Q số tiền số tiền nợ hụi là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).
Bị đơn Trương Thị Thúy M không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bà M thừa nhận có chơi hụi với ông H2 còn có tên là Hùng R, biết ông H2 có tên là Q và bà cho rằng chỉ còn nợ tiền hụi ông Q 15.150.000 đồng chứ không phải 64.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trương Thị Thúy M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 02/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đồng Tháp.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu yêu cầu ông Lê Phước H1 và bà Trương Thị Thúy M chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Q số tiền số tiền nợ hụi là 64.000.000 (Sáu mươi bốn triệu đồng) đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp về dân sự nợ hụi” là phù hợp với quy định tại các Điều 463, 466 và 471 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn Trương Thị Thúy M không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T2 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trương Thị Thúy M, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Trương Thị Thúy M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có cung cấp ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Đồng thời, bà M không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Q. Sau khi án sơ thẩm tuyên, bà M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp, lý do trong các dây hụi bà M làm chủ hụi, không có hụi viên là Phạm Văn Q nên việc Tòa án buộc bà M phải trả tiền hụi còn nợ cho ông Phạm Văn Q1 là không đúng.
Tại phiên toà phúc thẩm, bà M không thừa nhận có nợ ông Q 64.000.000 đồng tiền hụi, không thừa nhận giọng nói trong file ghi âm mà phía nguyên đơn cung cấp là của bà nhưng bà không yêu cầu giám định.
Căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự thì chứng tỏ rằng: Sổ hụi khui ngày 09/4/2016 âm lịch, hụi 2.000.000 đồng, gồm 30 người, một tháng khui một lần, thể hiện bà Trương Thị Thúy M là chủ hụi, ông Q có tham gia 02 chân tại số thứ tự 6 và 7. Việc ông Phạm Văn Q còn có tên gọi khác là H2 đã được ông Lê Phước H1, những người chơi hụi chung khác là bà Phạm Thị R1, bà Nguyễn Thị Tường V1, bà Nguyễn Thị Đ cũng thừa nhận. Bà Lê Thị D (là mẹ ông H1) xác định, do là bà con nên ông Phước H1 và bà M gọi bà D là chị 4, tên “Chị 4 H2” tại sổ hụi khui ngày 09/4/2016 là gọi bà D là “chị 4” và tên gọi khác của ông Q là “H2”, nhưng thực tế người tham gia và đóng tiền hụi là ông Q. Như vậy, có cơ sở xác định người tham gia chân hụi tại số thứ tự 6 và 7 tại sổ hụi khui ngày 09/4/2016 là ông Phạm Văn Q.
Ông Q xác định bà M khui dây hụi ngày 09/4/2016 đến lần thứ 23 thì bà M tuyên bố vỡ hụi. Do ông Q chưa hốt lần nào nên bà M thiếu ông Q số tiền hụi của dây hụi ngày 09/4/2016 là 23 lần x 2.000.000 đồng x 2 chân = 92.000.000 đồng (Chín mươi hai triệu đồng).
Dây hụi khui ngày 25/01/2015 AL, hụi 5.000.000 đồng, gồm 26 người, một tháng khui 01 lần, dù đã mãn hụi nhưng ông Q còn thiếu 01 lần x 02 chân chết = 10.000.000 đồng; dây hụi 15/01/2017, hụi 1.000.000 đồng, gồm 32 người, nửa tháng khui một lần, khi vỡ hụi còn 06 lần x 3 chân chết = 18.000.000 đồng; tổng cộng là 28.000.000 đồng. Nên hiện nay ông Q đồng ý cấn trừ số tiền ông Q còn thiếu bà M vào số tiền bà M còn thiếu ông Q: 92.000.000 đồng – 28.000.000 đồng = 64.000.000 đồng
Xét sự tự nguyện cấn trừ tiền của ông Q là có lợi cho bà M và phù hợp với lời khai của bà M về số lần khui hụi, thời gian vỡ hụi, nên được chấp nhận. Do đó, sau khi cấn trừ thì xác định hiện nay bà M còn thiếu ông Q tiền hụi là 64.000.000 đồng. Vấn đề này thể hiện rõ trong file ghi âm mà phía nguyên đơn cung cấp và cũng trong file ghi âm này, bà M cũng xác định bà biết tên gọi khác của ông Q là “H2”. Ngoài ra, người làm chứng Nguyễn Thị Tường V xác định bà V có cùng ông Q chơi hụi do bà M làm chủ hụi. Gần tết năm 2025 âm lịch, khi gặp bà M, bà M có nói với bà V là bà M còn thiếu ông Q tiền hụi là 64.000.000 đồng.
Bà Thúy M kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho lời trình bày của mình nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Thúy M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 02/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, Đồng Tháp nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
Do kháng cáo của bà Trương Thị Thúy M không được chấp nhận nên bà Thúy M phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 38; Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 288, 471, 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 37, 60 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trương Thị Thúy M;
-
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 02/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn Q.
Buộc ông Lê Phước H1 và bà Trương Thị Thúy M chịu trách nhiệm liên đới trả cho ông Phạm Văn Q số tiền hụi còn nợ là 64.000.000 đồng (Sáu mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Lê Phước H1 và bà Trương Thị Thúy M phải có trách nhiệm liên đới chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 3.200.000 đồng (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn ông Phạm Văn Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho ông Phạm Văn Q toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.600.000 đồng (Một triệu, sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0007214 ngày 25/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nay là Phòng Thi hành án khu vực 11 – Đồng Tháp.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Trương Thị Thúy M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm án án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006995 ngày 26/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11- Đồng Tháp.
Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
8
Bản án số 777/2025/DS-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự nợ hụi
- Số bản án: 777/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự nợ hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP DÂN SỰ NỢ HỤI
