Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 777/2024/HS-PT

Ngày 29 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: 1/ Bà Trần Thị Thúy Hồng

2/ Ông Trần Ngọc Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Phạm Ba Duy, Kiểm sát viên cao cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 29/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 454/2024/TLPT-HS ngày 27/5/2024. Do có kháng cáo của bị hại, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo bị kháng cáo: Nguyễn Thị Mỹ T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1982 tại Campuchia; Nơi thường trú: Ấp A, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 và bà Trần Thị H, sinh năm 1960; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có chồng là Lê Thanh T2, sinh năm 1982 và chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giam từ ngày 08/9/2023 (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đỗ Hải B, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

Bị hại có kháng cáo: Chị S, sinh ngày 02/12/1985; Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai (Có mặt);

Người bảo vệ quyền lợi cho phía bị hại: Luật sư Đậu Đức N, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).

Địa chỉ: Công ty L, số G N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, vụ án có nội dung như sau:

Nguyễn Thị Mỹ T và Lê Đình H1 sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012 nhưng không đăng ký kết hôn. Khoảng tháng 11/2021, H1 về sinh sống với chị S ở xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, còn T thì kết hôn và sinh sống với anh Lê Thanh T2 ở xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Do có mâu thuẫn về tiền bạc nên H1 thường xuyên nhắn tin, đe dọa chém, giết gia đình T.

Khoảng 21 giờ ngày 20/8/2022, H1 điều khiển xe gắn máy biển số 60AM - 051.34 đến nhà anh Lê Thanh T2 tại ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai tìm gặp T để đòi tiền. Tại đây, H1 và T2 cự cãi nhau, H1 đe dọa chém T2 và T nếu T không trả tiền cho H1. Nghe H1 đe dọa, T2 đi tới bên hông nhà lấy 01 cây tuýp sắt dài 1,2m đánh H1 01 cái trúng vào cẳng tay phải, cả hai xô xát thì T2 bị ngã ra sân nhà. Lúc này, T đang ở trong bếp chứng kiến sự việc nên lấy 01 con dao dài 31 cm chạy đến chém 02 cái vào tay phải của H1 thì H1 bỏ chạy về nhà.

Khoảng 05 phút sau, bà Huỳnh Thị D (mẹ ruột của H1), cùng chị S và cháu Lê Ngọc Thùy T3, sinh năm 2009 (con gái S) đến nhà T2 để nói chuyện với T2 và T thì giữa chị S và T cự cãi, xô xát nhau. T cầm con dao (hung khí chém H1) chém 04 nhát liên tiếp theo hướng từ trên xuống trúng vào đỉnh đầu chị S. Sự việc được can ngăn, sau đó, bà D, cháu Thùy T3 đưa chị S đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1133/TgT/2022 ngày 24/10/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của chị S:

Tỷ lệ thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Satinah là 06%, do bệnh nhân đang mang thai nên Pháp y không thể thực hiện các cận lâm sàng để phục vụ đầy đủ công tác giám định do có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra trưng cầu giám định bổ sung sau khi bệnh nhân chấm dứt thai kỳ.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0397/KLTTCT-TTPYĐN ngày 04/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận tình trạng thương tích của chị S như sau: Đã được Trung tâm P giám định pháp y về thương tích số 1133/TgT/2022 ngày 24/10/2022 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%.

Tại Cáo trạng số 38/CT-VKS-P1 ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, có nội dung:

Truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T về tội “Giết người” chưa đạt theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HS-ST ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã tuyên xử:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T phạm tội “Giết người” chưa đạt; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590; Điều 591, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Buộc bị cáo T bồi thường cho bị hại chị S số tiền 35.002.000đồng. Gia đình bị cáo T đã nộp số tiền bồi thường 5.000.000đồng cho bị hại chị S theo Biên lai thu tiền số 0000482 ngày 15/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Chị S có quyền liên hệ Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để nhận lại số tiền trên.

Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề về tang vật, án phí, các biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 23/4/2024, phía người bị hại làm đơn kháng cáo, nêu lý do:

Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, xin được xem xét lại tăng án bị cáo và tăng số tiền bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, cho rằng mức án xét xử đối với bị cáo là quá nhẹ, hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Vì vậy, người bị hại đề nghị tăng án đối với bị cáo và tăng phần bồi thường thiệt hại.

Luật sư bảo vệ cho phía bị hại thì cho rằng, mức án 6 năm tù là quá nhẹ so với hành vi của bị cáo. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Việc phía người bị hại không chết là ngoài ý muốn của bị cáo là do được cấp cứu kịp thời, hành vi của bị cáo mang tính chất côn đồ, biết rõ nạn nhân có thai nhưng vẫn ra tay hành động, đề nghị là phải tăng mức án đối với bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm là từ 9 - 11 năm tù. Ngoài ra, luật sư còn đề nghị là điều tra đối với những người giúp sức cho bị cáo thực hiện hành vi giết người. Đó là ông T2, ông B và bà N1 là những người trong gia đình của bị cáo. Về phần bồi thường thiệt hại đề nghị số tiền 100.000.000đồng.

Phía bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho phía bị cáo cho rằng, hành vi của bị cáo là do có phần lỗi của phía bị hại đã vào nhà của bị cáo để gây sự trước. Từ đó có sự tranh cãi và bị cáo đã bức xúc không kìm nén được nên có hành động phạm tội. Mức án mà bị cáo phải chịu là có nghiêm nhưng bị cáo không kháng cáo mà theo luật sư thì lẽ ra trong trường hợp này nếu bị cáo có kháng cáo thì phải xem xét lại tội danh cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật, trong đó xác định hành vi phạm tội của bị cáo là có phần lỗi của phía bị hại, mức án 6 năm tù là phù hợp. Phía bị hại yêu cầu tăng án cũng như yêu cầu tăng bồi thường, nhưng không có những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, nghe bị cáo, bị hại trình bày, nghe Đại diện Viện kiểm sát và luật sư phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của phía bị hại làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:

[2.1] Lời khai của bị cáo, kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản pháp y, kết luận pháp y cũng như việc xác minh các dấu vết tại hiện trường của cơ quan điều tra xác định, khoảng 21 giờ ngày 20/8/2022, tại nhà ở ấp A, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T đã có hành vi dùng một con dao dài 31cm, cán bằng nhựa màu xanh lá cây dài 11cm, lưỡi bằng kim loại chém 4 nhát trúng vào đỉnh đầu của người bị hại là S.

Hậu quả, theo kết luận giám định số 0397 ngày 4/5/20233 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, thương tích của người bị hại là bị mẻ bản ngoài xương sọ vùng đỉnh trái. Tổng tỷ lệ thương tích cơ thể là 28%.

[2.2] Với thương tích nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T phạm tội giết người chưa đạt, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

Trong vụ án này, xuất phát từ việc anh Lê Đình H1 là chồng của bị hại đã nhiều lần điện thoại, nhắn tin đe dọa vợ chồng bị cáo và sau đó đến nhà gây sự với vợ chồng bị cáo. Trước đó, khi chị S đến tìm chồng không tìm hiểu nguyên nhân, lại tiếp tục cự cãi với bị cáo nên trong lúc bức xúc, thiếu kiềm chế bị cáo đã dùng dao là hung khí nguy hiểm, chém nhiều nhát vào người bị hại, trúng vào đỉnh đầu đây là vùng trọng yếu của cơ thể con người, có thể đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại, dẫn đến tử vong.

Khi lượng hình thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, trong đó cũng có một phần lỗi của người bị hại đó là anh Lê Đình H1 chồng của bị hại. Ngoài ra, trong quá trình điều tra thì bị cáo cũng đã khắc phục một phần hậu quả bồi thường 5.000.000đồng, những tình tiết giảm nhẹ này được pháp luật quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo khai không biết bị hại có thai. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn áp dụng điểm i, khoản 1 Điều 52 và phải chịu tình tiết tăng nặng đối với hành vi này là phù hợp.

[2.3] Phía bị hại kháng cáo cho rằng, mức án sơ thẩm là nhẹ. Tuy nhiên, đối chiếu với các hành vi cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo với mức án nêu trên là có căn cứ hợp pháp. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía bị hại về phần tăng án.

[2.4] Đối với phần bồi thường thiệt hại, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo còn phải bồi thường 35.002.000đồng với số tiền bị cáo đã nộp trước tại cơ quan Thi hành án 5.000.000đồng là phù hợp với các chiết tính chi phi phí hợp lý theo quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, Luật sư của bị hại cũng như phía bị hại yêu cầu tăng bồi thường lên 100.002.000 đồng. Tuy nhiên, cũng không cung cấp được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh cho khoản tiền thiệt hại yêu cầu ở giai đoạn kháng cáo. Do đó, không có cơ sở để cấp phúc thẩm chấp nhận.

[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Phía người bị hại không phải chịu theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 355 Bộ Luật tố tụng Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại là chị S.

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T phạm tội “Giết người” chưa đạt; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ T 06 (S1) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2023.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590; Điều 591, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Buộc bị cáo T bồi thường cho bị hại chị S số tiền 35.002.000đồng. Gia đình bị cáo T đã nộp số tiền bồi thường 5.000.000đồng cho bị hại chị S theo Biên lai thu tiền số 0000482 ngày 15/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Chị S có quyền liên hệ Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để nhận lại số tiền trên.
  4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - TAND tỉnh Đồng Nai.
  • - Công an tỉnh Đồng Nai.
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai.
  • - Lưu VP; HS vụ án, TK: TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 777/2024/HS-PT ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 777/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger