Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 776/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-8-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Nga
  2. Bà Phan Thị Dòn

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 180ngày 04 tháng 3 năm 2024ề việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sốHNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024,giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Chu Thị H sinh năm 1987

    Địa chỉ: 110 Trần Hưng Đ, phường Đoàn K, thị xã Ayun P, tỉnh GL

  2. Bị đơn: ÔngHoàng Ngọc T năm 1959

    Địa chỉ: B Q, ấp C, xã B, huyện B, Tp HCM.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn – Bà Chu Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Hoàng Ngọc T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2019 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BC, huyện BC, Thành phố Hồ Chí Minh, được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 102/2019 ngày 18/9/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, nhưng vì tôi đang mang thai và chưa có việc làm, nên tôi cố gắng cắn răng chịu đựng. Ông T1 sống gia trưởng, bảo thủ và luôn luôn coi thường tôi, ông thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu và sẵn sàng chửi rủa, sỉ vả tôi bất cứ lúc nào, từ trong nhà ra ngoài đường, ngoài chợ và trước mặt nhiều người. Nay tôi nhận thấy, cuộc hôn nhân của tôi đã rơi vào bế tắc, không lối thoát, vợ chồng đã sống ly thân không thể nào hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Hoàng Ngọc T1.

- Về con chung: có 01 (một) con chung tên Hoàng Hải N sinh năm 2020Tôi không yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, sau khi ly hôn, con chung do ông Trung trực T2 trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Tôi không cấp dưỡngcon.

- Về tài sản chung: không cókhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không cókhông yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn – Bà Chu Thị H vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

* Bị đơn – Ông Hoàng Ngọc Tr trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhiều từ năm 2023, nguyên nhân mâu thuẫn là do không rõ ràng về kinh tế, nhà cửa và tác động của gia đình bên vợ, tôi yêu cầu hòa giải, hàn gắn, vì tôi còn thương vợ con. Tôi không đồng ý ly hôn vì con còn nhỏ, không muốn con mồ côi.

- Về con chung: có 01 con chung tên Hoàng Hải N1 năm 2020

Tôi yêu cầu trực tiếp nuôi con Hoàng Hải N1 năm 2020 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn – Ông Hoàng Ngọc Tr mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Chu Thị H khởi kiện xin ly hôn với ÔngHoàng Ngọc T3 là tranh chấp về ly hôn. Ông Hoàng Ngọc T4 trú tại huyện B. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Hoàng Ngọc T1 Bà Chu Thị H vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[3] Về quan hệ hôn nhân: tính BàChu Thị Hvà Ông Hoàng Ngọc Tr đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 18/9/2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, TP. HCM. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Bà Chu Thị Hvà Ông Hoàng Ngọc Tr là vợ chồng hợp pháp.

[4] Theo Bà Chu Thị H trình bày:

Ông T1 sống gia trưởng, bảo thủ và luôn luôn coi thường bà H, ông T1 thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu và sẵn sàng chửi rủa, sỉ vả bà H bất cứ lúc nào, từ trong nhà ra ngoài đường, ngoài chợ và trước mặt nhiều người. Nay bà H nhận thấy, cuộc hôn nhân của bà H đã rơi vào bế tắc, không lối thoát, vợ chồng đã sống ly thân không thể nào hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được.

[5] Theo Ông Hoàng Ngọc Tr trình bày:

Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhiều từ năm 2023, nguyên nhân mâu thuẫn là do không rõ ràng về kinh tế, nhà cửa và tác động của gia đình bên vợ.

[6] Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.

[7] Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:

“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

[8] Xét thấy, theo bà H trình bày thì Ông T1 coi thường bà H, ông T1 chửi rủa, sỉ vả bà H, vợ chồng đã sống ly thân là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.

Bà H không yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, sau khi ly hôn, con chung do ông Trung trực T2 trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà H không cấp dưỡngcon.

Ông T1 yêu cầu trực tiếp nuôi con Hoàng Hải N1 năm 2020không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[9] Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của BàChu Thị H

Về quan hệ hôn nhân: Bà Chu Thị Hđược ly hôn với Ông Hoàng Ngọc T1

(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 18/9/2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, TP.HCM)

Về con chung: có 01 (một) con chung tên Hoàng Hải N sinh năm 2020

Ông T1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hoàng Hải N sinh năm 2020 đến trưởng thành. Bà H không cấp dưỡngcon.

Về tài sản chung: BàChu Thị HôngHoàng Ngọc Trxác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: BàChu Thị HôngHoàng Ngọc T6 định không cónên Hội đồng xét xử không xét.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm:

BàChu Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0033254 ngày 27/02/2024của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. BàChu Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Chu Thị H

    Về quan hệ hôn nhân: BàChu Thị Hđược ly hôn với ÔngHoàng Ngọc T1

    (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 102 ngày 18/9/2019 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, TP HCM.

    Về con chung: có 01 (một) con chung tên Hoàng Hải N sinh năm 2020

    Ông T1 được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hoàng Hải N sinh năm 2020 đến trưởng thành. Bà H không cấp dưỡngcon.

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

    Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

    Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự đều có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung: BàChu Thị HôngHoàng Ngọc Trxác định tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

    Về nợ chung: BàChu Thị HôngHoàng Ngọc T6 định không cónên Hội đồng xét xử không xét.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    BàChu Thị Hphải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0033254 ngày 27/02/2024của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. BàChu Thị Hđã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND H. Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS H. Bình Chánh;
  • - UBND nơi ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT-HS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 776/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 776/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger