Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Bản án số: 776/2025/DS-PT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày: 17 - 11 -2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn

Bà Nguyễn Thị Ánh Phương

Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Nam - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Hà Ngọc Thư Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 546/2025/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1311/2025/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1974.

Địa chỉ: A đường A, Phường I, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Cấp D, B, B, thành phố Hồ Chí Minh. Theo Giấy ủy quyền ngày 04/11/2024.

* Bị đơn: Bà Phạm Thị Đan T1, sinh ngày 1973 (có mặt).

Địa chỉ: 1 Đ, Phường H, (nay là Phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Bị đơn: Bà Phạm Thị Đan T1, sinh ngày 1973.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm;

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phạm Thị B - đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn T trình bày:

Vào ngày 02/01/2024 bà B có cho bà T1 mượn 600.000.000 đồng. Đến ngày 02/02/2024 bà T1 có đóng lãi như thỏa thuận của hai bên 2%/tháng, đóng được 1 tháng với số tiền là 12.000.000 đồng.

Từ ngày 03/02/2024 đến nay bà T1 không đóng lãi cho bà B.

- Khi vay tiền các bên có lập Văn bản thỏa thuận (V/v cho vay, vay tiền). Nội dung: Bà T1 cam kết là chủ sử dụng đất tọa lạc tại thửa 571, tờ bản đồ 3, diện tích 230m². địa chỉ: xã N, huyện N, TP . (theo tài liệu năm 2005). Theo:

  • + Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Tiêu Mỹ V và bà Phạm Thị Đan T1 lập ngày 27/10/2016.
  • + Nguồn gốc đất trước đây do bên A tự khai thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị L nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Phú L1 theo Giấy thoả thuận lập ngày 15/01/2001. Bà L tặng cho quyền sử dụng đất cho bà T2 Mỹ Vĩnh theo Giấy cho tặng đất lập ngày 27/7/2016. Sau đó, bà V chuyển nhượng cho bên A (bà T1). Bên A hiện độc thân theo Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số: 314/2023/UBND- XNTTHN của UBND phường H1, TP M, tỉnh Tiền Giang ngày 25/12/2023.

- Bên cho vay tiền (Bên B): Bà Phạm Thị B sinh năm: 1974 Thường trú theo CCCD: 120 Đường A, Phường 1, Quận H, TP .. Hai bên đồng ý thực hiện việc vay tài sản với các thỏa thuận sau đây:

  1. Bên B đồng ý cho bên A vay và bên A đồng ý vay số tiền: 600.000.000 đồng, số tiền này do hai bên giao nhận thành 02 đợt:
    • + Đợt 01: Bên B đã giao và Bên A đã nhận số tiền: 450.000.000 đồng trước khi ký vào văn bản này.
    • + Đợt 02: Ngay khi ký vào văn bản thoả thuận này, bên B giao và bên A nhận số tiền: 150.000.000 đồng.
  2. Thời hạn vay: 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày 02/01/2024 dương lịch đến hết ngày 02/01/2025 dương lịch.
  3. Lãi suất: Do hai bên tự thỏa thuận.
  4. Thanh toán lãi: Thanh toán định kỳ hàng tháng, kỳ đầu tiên thanh toán vào ngày 02/01/2024, các kỳ tiếp theo thanh tới vào ngày 02 dương lịch.

Để đảm bảo cho số tiền vay nêu trên, bên A giao cho bên B giữ toàn bộ bản chính giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số: 571, tờ bản đồ: 3 (Theo tài liệu năm 2005), địa chỉ: xã N, huyện N, TP ., diện tích đất: 230m², nêu trên.

  1. Trường hợp một trong hai bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước hạn thì phải báo trước cho bên còn lại trước 30 (Ba mươi) ngày.
  2. Trường hợp chấm dứt hợp đồng vay (Đơn phương chấm dứt hoặc hết hạn hợp đồng) thì bên A có trách nhiệm hoàn trả cho bên B toàn bộ số tiền đã vay là 600.000.000 đồng, cộng với tiền lãi theo thỏa thuận (Nếu có), bên B hoàn trả lại cho bên A toàn bộ bản chính giấy tờ quyền sử dụng đất nêu trên.
  3. Trường hợp đến hạn trả nợ mà bên A không thanh toán hết cho bên B số tiền nêu trên và hai bên không có thỏa thuận nào khác thì bên B được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi diện tích đất nêu trên để thu hồi vốn và lãi vay (Mọi chi phí liên quan, kể cả chi phí luật sư do bên A chịu trách nhiệm thanh toán).

Bà B đã giao 450.000.000 đồng cho bà T1 trước khi ký văn băn thỏa thuận này. Số tiền này hai bên không có làm biên nhận giao nhận tiền; theo Vi bằng ngày 02/01/2024 bà B có giao cho bà T1 nhận 150.000.000 đồng. Tổng cộng 600.000.000 đồng.

Nay bà B yêu cầu bà Phạm Thị Đan T1 phải có nghĩa vụ trả lại số tiền 600.000.000 đồng cho bà B và tiền lãi với lãi suất 2%/tháng, chỉ yêu cầu tính lãi từ ngày 03/02/2024 đến ngày 03/01/2025 là 11 tháng (600.000.000đ x 2% x 11 tháng = 132.000.000 đồng), tổng cộng là 732.000.000 đồng, yêu cầu trả khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên không có làm hợp đồng thế chấp tài sản gì cả, khi cho mượn tiền bà B có nhận của bà T1 đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1941, địa chỉ: 9 ấp D, xã N, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh do UBND huyện N cấp ngày 10/8/1994, số 0114 QSDĐ, diện tích 23.333m² (photo) và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/10/2016 không có công chứng giữa bà Tiêu Mỹ V với bà Phạm Thị Đan T1; Giấy Thỏa thuận sang nhượng ruộng ngày 15/01/2001 và Giấy cho tặng đất ngày 27/7/2016; Bản vẽ sơ đồ nhà đất (đều là photo).

* Tại bản tự khai của bà Phạm Thị Đan T1 trình bày: Năm 2021, bà có mượn của ông Nguyễn Văn T chồng của bà PhạmThị B2 200.000.000 đồng, lãi suất 5%, tiền lãi bà chuyển khoản hàng tháng, đóng tới 02/01/2024 bà hết khả năng đóng, ông Nguyễn Văn T mới nói với bà là cho bà mượn thêm và hạ lãi suất xuống 2% với điều kiện là đưa giấy tờ đất làm tin và lập vi bằng. Bà nghĩ lúc trước lãi 5% giờ còn 2% nên bà đồng ý. Ông T và bà B2 mới cộng vốn, cộng lãi lên 450.000.000 đồng, rồi đưa thêm bà 150.000.000 đồng nữa để lập vi bằng. Bà đóng lãi được 4 tháng, sau đó tới tháng thứ 5 bà hết khả năng chi trả, có thương lượng nhưng ông T và bà B2 không đồng ý. Ngày 29/11/2024 ông T và bà B2 đưa đơn kiện yêu cầu bà phải trả vốn, lãi 696.000.000 đồng, hiện bà hết khả năng, bà xin trả 600.000.000 đồng, vì mấy năm nay vốn lãi đã cộng bên trong 600.000.000 đồng này rồi. Bà xin trả mỗi tháng 3.000.000 đồng, khi nào bà bán được đất thì bà sẽ trả hết cho vợ chồng ông T và bà B2.

Bà có mua 01 miếng đất của bà Tiêu Vĩnh M thửa 571, tờ bản đồ số 3, diện tích 230m² ở xã N, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh. Đất này là của bà Nguyễn Thị L chuyển nhượng của ông Nguyễn Phú L1, bà L chưa được đứng tên, bà L tặng cho mẹ nuôi của bà là bà Tiêu Vĩnh M, bà M cũng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà có đưa toàn bộ bản photo các giấy tờ về thửa đất. Nay bà xin bà B2 bỏ lãi, không tính lãi với số tiền trên, vì bà rất là khó khăn, chưa có việc làm. (Bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.)

Tại bản án Dân sự sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B.

Buộc bà Phạm Thị Đan T1 có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị B số tiền vốn 600.000.000 đồng và 99.600.000 đồng tiền lãi, tổng cộng vốn, lãi là 699.600.000 đồng (Sáu trăm chín mươi chín triệu sáu trăm ngàn đồng). Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 24/6/2025, bị đơn Phạm Thị Đan T1 có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm 87/2025/DS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2025 của Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét yêu cầu bà B ngưng tính lãi, vì trong số tiền vay 600.000.000 đồng đã có phần lãi 5% cộng vào vốn vay của nhiều năm.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Nguyên đơn bà Phạm Thị B và bị đơn Phạm Thị Đan T1 thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:

Về tố tụng việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Tại phiên tòa Bà T1 và đại diện ủy quyền của nguyên đơn thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho (nay là Tòa án khu vực 1).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Phạm Thị Đan T1 thực hiện đúng qui định theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự, thời hạn kháng cáo đúng qui định Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp “ Hợp đồng vay tài sản” theo qui định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng qui định.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm;

Nguyên đơn bà Phạm Thị B và bà Phạm Thị Đan T1 thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án, cụ thể:

Các đương sự thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án, như sau:

  • + Bà Phạm Thị B đồng ý trả cho bà Phạm Thị B số tiền 600.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật.
  • + Đại diện ủy quyền của bà Phạm Thị B không yêu cầu bà T1 trả số tiền lãi 99.600.000 đồng.

Xét thấy, các bên đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Việc thỏa thuận của các đương sự không trái qui định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[4] Từ những phân tích trên, xét kháng cáo của bà Phạm Thị Đan T1 có cơ sở nên được chấp nhận. Quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Phạm Thị Đan T1. Sửa bản án sơ thẩm số 87/2025/DS-ST ngày 14/5/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B.

Buộc bà Phạm Thị Đan T1 có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị B số tiền vốn 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày bị đơn bà Phạm Thị B có yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn bà Phạm Thị Đan T1 chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành án.

[2]. Về án phí:

Bà Phạm Thị Đan T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên được hoàn lại 300.000 đồng tam ứng án phí theo biên lai thu số 0005985 ngày 24/6/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.

Bà Phạm Thị Đan T1 phải chịu 28.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

H lại cho bà Phạm Thị B số tiền 15.920.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006996 ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - TAND khu vực 1;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Đăng cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Diệp Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 776/2025/DS-PT ngày 17/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 776/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger