TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 775/2024/HSPT
Ngày: 05-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm
Các Thẩm phán: 1. Bà Lê Hải Yến
2. Bà Chử Phương Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 627/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Thị T, sinh năm 1982.
- Nguyễn Văn H, sinh năm 2002.
- Trần Thị V, sinh năm 2003.
ĐKHKTT: Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Ngách A, tổ A, phường Y, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và bà Trịnh Thị L (đều đã chết); có chồng Nguyễn Duy D (đã ly hôn) và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Bị cáo đầu thú và bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Trịnh Thị T2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Bị cáo đầu thú và bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 30/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
ĐKHKTT và nơi cư trú: Thôn I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị U; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;
Bị cáo đầu thú và bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 26/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Bà Hoa Thị Hồng L2, sinh năm 1944; nơi cư trú: Số C E, tập thể Q, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa;
- Ông Đỗ Duy H1, sinh năm 1945; nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam; vắng mặt tại phiên tòa;
- Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 7/2023 đến đầu tháng 8/2023, Bùi Thị T - sinh năm 1982 trú tại Tổ dân phố T, phường D, quận H, thành phố Hà Nội cùng với Trần Thị V - sinh năm 2003 trú tại: thôn I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nguyễn Văn H - sinh năm 2002 trú tại thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, thống nhất bàn bạc làm chung nhóm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoạt động theo mô hình Công ty do T, H và V quản lý. Đến cuối tháng 9/2023, tất cả chuẩn bị các điều kiện như thuê nhà tại số A T, V, phường P, quận H, mua sắm phương tiện, thiết bị (bàn ghế, điện thoại, sim....). Đến đầu tháng 10/2023, nhóm bắt đầu hoạt động. Thuấn có trách nhiệm nhập hàng tặng kèm như sữa, thuốc, thực phẩm chức năng chuyển đến cho H là quản lý kho hàng tại căn hộ chung cư số 2018, tầng 20 tòa S205 chung cư V1 ở xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội. Hảo phụ trách quản lý kho và việc giao hàng nhận tiền. V là quản lý nhân sự và có trách nhiệm cùng Thuấn chia các thông tin khách hàng cho nhân viên tiếp thị, quản lý việc chốt đơn. Thuấn và H là người tìm kiếm các thông tin khách hàng trên mạng rồi cung cấp dữ liệu thông tin khách hàng cho nhân viên tiếp thị liên hệ khách hàng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nhân viên tiếp thị gồm: Hoàng Thu T3 - sinh năm 2004 trú tại Thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nguyễn Trọng A - sinh năm 2002 trú tại: thôn Đ, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội; Nguyễn Tiến M1 - sinh năm 2002 trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Hoàng Như Q - sinh năm 2002 trú tại thôn X, xã X, huyện S, thành phố Hà Nội. Nhân viên tiếp thị sẽ trực tiếp liên hệ với khách hàng, dùng thủ đoạn giả danh là nhân viên Trung tâm Y tế chăm sóc sức khỏe và Công ty B để giới thiệu khách làm hồ sơ bảo hiểm y tế miễn phí trong thời hạn 05 năm hoặc nhận quyền lợi khám bệnh, được miễn phí hoàn trả 80% số tiền bỏ ra đi bệnh viện trong thời gian vừa qua và tặng kèm sữa, thực phẩm chức năng.... Nhân viên quản lý nhân sự: Trần Thị Kim L3 - sinh năm 2005 trú tại thôn I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, phụ trách việc điểm danh, chấm công của các nhân viên và làm hồ sơ nhận tuyển người vào làm. Nhân viên giao hàng gồm: Trịnh Văn H2 - sinh năm 2002 trú tại: thôn P, xã T, huyện M và Nguyễn Tiến D1 - sinh năm 2001 trú tại thôn T, xã T, huyện M phụ trách việc giao thuốc, thực phẩm chức năng, sữa cho khách hàng và thu tiền chi phí làm hồ sơ.
T và V quản lý nhân viên bằng cách yêu cầu từng người lập tài khoản gmail, cung cấp tên tài khoản, mật khẩu đăng nhập để theo dõi và quản lý chung, đồng thời cung cấp điện thoại, sim, cách thức tư vấn hướng dẫn khách để nhân viên tiếp thị gọi liên lạc lừa khách, nhân viên tiếp thị sẽ bắt cặp với nhau để lừa khách. Khi chốt được đơn sẽ báo lại cho T và V. Sau đó, T hoặc V thông báo cho H thông tin của khách để H gửi quà tặng kèm và đến giao dịch lấy tiền. Mỗi lần chốt được đơn thì nhân viên tiếp thị sẽ được chia từ 25% đến 30% số tiền chiếm đoạt được, còn nhân viên khác chưa lừa được thì sẽ được trả lương theo tháng từ 3.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. D1 và H2 được trả lương 10.000.000 đồng/tháng. Hàng tháng T và H sẽ tính tổng số tiền đã lừa đảo chiếm đoạt được, trừ các chi phí khác rồi chia theo tỉ lệ H được 30%, T và V mỗi người được 35% số tiền chiếm đoạt được. Quá trình điều tra xác định các bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:
- Ngày 16/11/2023, T3 gọi điện thoại liên hệ với bà Hoàng Thị M (tên gọi khác là M2) - sinh năm 1958 trú tại Thôn G, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội giới thiệu là nhân viên của Trung tâm chăm sóc sức khỏe cộng đồng và hỏi bà M: “Lúc trước cô có mua thuốc xương khớp đúng không?” bà M trả lời “ừ”, T3 nói tiếp: “Đợt này Trung tâm đang có chính sách giải ngân, chọn ra 10 bộ hồ sơ may mắn, cô là một trong 10 hồ sơ may mắn, cô sẽ được nhận về hai quyền lợi, một là đi thăm khám miễn phí trong vòng 05 năm, hai là bên bảo hiểm y tế hoàn trả 80% số tiền bỏ ra đi bệnh viện và mua thuốc trong thời gian vừa qua”. T3 hẹn bà M là đến chiều sẽ có người bên Văn phòng xét duyệt hồ sơ gọi tư vấn. Sau đó, T3 báo cho Trọng A phối hợp với T3 gọi điện cho bà M giới thiệu mình là người bên Văn phòng bảo hiểm, hướng dẫn cách để hưởng 02 quyền lợi trên, để được nhận quyền lợi trên thì bà M phải đóng cho Trung tâm một khoản tiền, cùng với đợt này bên nhà thuốc của Trung tâm đang tài trợ một số thuốc về khớp, nếu bà M làm hồ sơ thì nhà thuốc sẽ gửi tặng 02 hộp sữa OBISUARE GOLD về cho và thu tiền hồ sơ luôn. Đến chiều cùng ngày, Trọng A gọi điện cho bà M giới thiệu mình là người bên Văn phòng bảo hiểm và hướng dẫn cách để hưởng quyền lợi bảo hiểm. Quá trình tư vấn, bà M đồng ý nộp tiền làm hồ sơ bảo hiểm thì Trọng A báo lại cho T3 là chốt thành công đơn của bà M với số tiền là 4.000.000 đồng. Sau đó, T3 đăng nhập vào tài khoản G1 để mở bảng trang tính cập nhật 01 đơn có thông tin: Ngày 16/11/2023, tên khách Hoàng Thị M, SĐT 097042153, HKTT: thôn G, Đ, G, Hà Nội, đơn 02 hộp sữa OBISUARE GOLD, trị giá 4.000.000 đồng, gửi bên giao hàng nhanh, đơn này do T3 và Trọng A thực hiện. Khoảng 03 ngày sau thì V báo cho T3 là đơn đã thành công và chiếm đoạt được 4.000.000 đồng. Với thủ đoạn tương tự, vào ngày 22/11/2023, T3 và Trọng A đã chiếm đoạt được của bà M với số tiền là 8.000.000 đồng.
- Sáng ngày 19/11/2023, với thủ đoạn tương tự như trên Hoàng Thu T3 đã lừa đảo chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng của ông Đỗ Duy H1 - sinh năm 1945 trú tại xóm C, thôn M, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam.
Quá trình mở rộng điều tra xác định như sau:
Ngày 06/12/2023, do Nguyễn Trọng A có thông tin khách hàng trên nhóm lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Trọng A gọi điện thoại cho bà Hoa Thị Hồng L2 - sinh năm 1944 trú tại phường Q, quận H, thành phố Hà Nội, giả danh là cán bộ Kho bạc Nhà nước tư vấn cho bà L2 để làm gói bảo hiểm. Qua trao đổi Trọng A thông báo cho bà L2 đủ điều kiện làm hồ sơ bảo hiểm y tế miễn phí trong thời hạn 05 năm, quà tặng kèm là 02 hộp thuốc xương khớp và yêu cầu bà L2 phải đóng số tiền 8.000.000 đồng gọi là phí VAT của gói bảo hiểm, bà L2 đồng ý. Ngày 07/12/2023, Trọng A muốn làm riêng nên bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Hoàng G - sinh năm 2002 ở cùng thôn đến nhà bà L2 ở C số A K, phường G, quận H để phối hợp lừa đảo chiếm đoạt tài sản. G đóng vai nhân viên shipper thực hiện nhiệm vụ giao hàng và thu tiền phí làm hồ sơ nhận thưởng. Khi đến nhà bà L2, Trọng A đứng ở ngoài đợi còn G mang 02 hộp thuốc xương khớp vào giao cho bà L2 và thu tiền làm hồ sơ nhận thưởng là 8.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền Trọng A và G về nhà, Trọng A chia cho G 3.000.000 đồng, còn Trọng A hưởng lợi 5.000.000 đồng.
Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra Trọng A khai ngày 13/12/2023, Nguyễn Tiến M1 gọi điện thoại cho ông Trần Văn N - sinh năm 1941 trú tại thôn T, xã H, huyện Ứ tự giới thiệu là cán bộ Nhà nước tri ân người già và cựu chiến binh, ông N là người may mắn được nhận gói tri ân là tiền và 05 năm đi khám chữa bệnh miễn phí, nếu ông N đồng ý thì phải bỏ phí làm hồ sơ là 10.000.000 đồng và hẹn gặp mặt trực tiếp để giao dịch nhận tiền. Sau đó, M1 nói với Trọng A phối hợp với M1 và giả làm nhân viên giao hàng để đến lấy tiền của ông N. Trọng A đồng ý và rủ Nguyễn Hoàng G đi cùng, G đồng ý rồi điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu đỏ, BKS: 29X7- 118.46 chở Trọng A đi đến nhà ông N để lấy số tiền 10.000.000 đồng. Quá trình nói chuyện, ông N yêu cầu Trọng A và G xuất trình các giấy tờ liên quan đến việc được hưởng tri ân, nhưng cả hai không xuất trình được. Ông N nghi ngờ là lừa đảo nên không đưa tiền mà báo lực lượng Công an xã H. Sau đó, Công an xã H đến xác minh thông tin, đưa Trọng A và G về trụ sở làm việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành triệu tập các đối tượng Nguyễn Văn H, Hoàng Thu T3, Trần Thị Kim L3, Nguyễn Tiến D1, Trịnh Văn H2, Bùi Thị T, Trần Thị V đến làm việc. Quá trình làm việc các đối tượng đã xin đầu thú và khai nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình đúng như nội dung trên.
Ngày 14/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc của nhóm Thuấn tại phòng 2018, tòa S khu đô thị V, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội, thu giữ các vật chứng gồm:
- 100 hộp giấy màu xanh nhãn hiệu Đông trùng hạ thảo T (chưa qua sử dụng);
- 100 lọ thủy tinh có nắp màu vàng được dán tem Đông trùng hạ thảo Việt Nam, trên thân lọ có nhãn mác màu xanh ghi Đông trùng hạ thảo Tâm An (chưa qua sử dụng);
- 130 hộp giấy nhãn hiệu Mộc huyết đan loại hộp 30 viên, được dán tem, bọc giấy bóng bên ngoài (chưa qua sử dụng).
- 90 hộp giấy nhãn hiệu lutein viên bổ mắt loại hộp 30 viên, được dán tem, bọc giấy bóng bên ngoài (chưa qua sử dụng).
- 160 hộp sữa nhãn hiệu Sukumin flex ngăn ngừa loãng xương, được dán tem, loại 400g (chưa qua sử dụng).
- 55 hộp sữa nhãn hiệu Obisure Gold plus loại 400g, được dán tem (chưa qua sử dụng).
Ngoài ra, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Ứ đã thu giữ thêm các vật chứng sau:
- 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh, số IMEI1: 357723104878273, số IMEI2: 357723104878281 đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0372500861 và 0945342401;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu đen có số IMEI 1: 357705101540790, IMEI 2: 357705101540808 bên trong lắp S đã bị khóa;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh, có số IMEI 1: E: 357723114583384, số IMEI 2: 357723114583392. Bên trong có lắp 01 sim viettel tin đã bị khóa và một sim vinaphone đã bị khóa;
- 01 Laptop nhãn hiệu Dell E7270 màu đen, đã qua sử dụng;
- 01 Laptop nhãn hiệu HP EliteBook 745 G3, đã qua sử dụng;
- 01 Laptop nhãn hiệu HP ProBook 4540S màu xám, sản xuất năm 2012, đã qua sử dụng;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh số IMEI: 1356942210451541, lắp sim 0866658584;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SUPER DREAM màu nâu, BKS: 29X7-Tivi 118.46, số khung: RLHHA08036Y067013, số máy HA08E0917086 xe đã qua dụng.
Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra cáo trạng còn truy tố 06 bị cáo khác theo quy định của pháp luật.
Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 14/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- Bị cáo Bùi Thị T 24 (Hai mươi tư) tháng tù, tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2023 đến ngày 30/01/2024.
- Bị cáo Nguyễn Văn H 24 (Hai mươi tư) tháng tù, tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023 đến ngày 30/01/2024.
- Bị cáo Trần Thị V 24 (Hai mươi tư) tháng tù, tính từ ngày bắt thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 26/01/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với 06 bị cáo khác, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/6/2024, các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V lần lượt có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H, và Trần Thị V thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo ngoài xã hội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:
Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung kháng cáo:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V mỗi bị cáo 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp, tương xứng với nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hậu quả xảy ra và hành vi phạm tội của các bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Bùi Thị T và bị cáo Nguyễn Văn H xuất trình tài liệu thể hiện các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Xét số tiền các bị cáo chiếm đoạt không lớn, các bị cáo không trực tiếp tiếp xúc, lừa tiền của các bị hại, các bị cáo đã tích cực bồi thường cho các bị hại, xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V, sửa quyết định của bản án sơ thẩm.
Cụ thể: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị V 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]Đơn kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Từ tháng 11/2023 đến ngày 13/12/2023, nhóm lừa đảo gồm Bùi Thị T, Nguyễn Văn H, Trần Thị V cầm đầu đã chỉ đạo Nguyễn Trọng A, Hoàng Thu T3, Trần Thị Kim L3, Trịnh Văn H2, Nguyễn Tiến D1 giả danh làm nhân viên Trung tâm Y tế chăm sóc sức khoẻ và Công ty B để lừa đảo chiếm đoạt của bà Hoàng Thị M số tiền 12.000.000 đồng, của ông Đỗ Duy H1 số tiền 2.500.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Hoàng G đã cùng với Nguyễn Trọng A giả danh là cán bộ Kho bạc Nhà nước tư vấn để làm hồ sơ bảo hiểm y tế lừa đảo chiếm đoạt của bà Hoa Thị Hồng L2 số tiền 8.000.0000 đồng ngày 07/12/2023 là Ngọc A1 và G làm riêng, hưởng lợi cá nhân và không báo cáo, mang tiền hưởng lợi bất chính về Công ty.
Hành vi của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết “Có tổ chức”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi vẫn cố ý phạm tội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V đều phạm tội nhiều lần để áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V sau khi phạm tội đã đến Cơ quan điều tra để đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; xét các bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả để cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét vai trò, tính chất phạm tội và nhân thân của các bị cáo để quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H xuất trình tài liệu thể hiện các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo Trần Thị V không xuất trình tài liệu, chứng cứ mới.
Xét mức hình phạt 24 tháng tù đối với mỗi bị cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp, tuy nhiên các bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, số tiền chiếm đoạt của các bị hại không lớn (14.500.000 đồng), đã tích cực khắc phục, bồi thường toàn bộ. Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V, sửa quyết định của bản án sơ thẩm. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết ăn năn, hối cải.
[4]Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[5]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V, sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị T 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thị T cho Ủy ban nhân dân phường Y, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Bùi Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Thị T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Hảo 2 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Vân 21 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị V cho Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Trần Thị V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Thị V cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Bùi Thị T, Nguyễn Văn H và Trần Thị V không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 05/9/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Thị Tâm |
Bản án số 775/2024/HSPT ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 775/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 11/2023 đến ngày 13/12/2023, nhóm lừa đảo gồm Bùi Thị Thuấn, Nguyễn Văn Hảo, Trần Thị Vân cầm đầu đã chỉ đạo Nguyễn Trọng Anh, Hoàng Thu Trang, Trần Thị Kim Loan, Trịnh Văn Hà, Nguyễn Tiến Dương giả danh làm nhân viên Trung tâm Y tế chăm sóc sức khoẻ và Công ty bảo hiểm để lừa đảo chiếm đoạt của bà Hoàng Thị Minh số tiền 12.000.000 đồng, của ông Đỗ Duy Hiển số tiền 2.500.000 đồng.
