Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 774/2024/DS-PT
Ngày 17 - 9 - 2024
V/v: “ Yêu cầu chia thừa kế; tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám

Bà Bùi Thị Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 297/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 “Yêu cầu chia di sản thừa kế; tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5266/2024/QĐPT-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1939 (đã chết).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M

1.1.1. Bà Lê Thị Nguyên H, sinh năm 1946;

1.1.2. Anh Nguyễn Quang M1, sinh năm 1975;

1.1.3. Anh Nguyễn Trọng Đ, sinh năm 1977;

Cùng trú tại: Số A H, phố T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo ủy quyền của bà H1 Mlanh Đ Ông Bùi Văn K, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Số B, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng(Văn bản ủy quyền ngày 05/7/2022; có mặt).

1.2. Chị Nguyễn Thị Mai K1, sinh năm: 1955; Nơi cư trú: Số A, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

1.3. Chị Nguyễn T(THạnh Đ1, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Số B, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn:

2.1. Bà Tăng Thị Đ1, sinh năm 1954; nơi cư trú: Lô E, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1 Bà Lưu T1 DNơi cư trú: 8 L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 16/10/2023; có mặt).

2.2. Phòng C11; địa chỉ: Trung tâm hành chính T13 - Số C, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Lê D; chức vụ: Trưởng phòng.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chị Nguyễn Tăng Uyên T2, sinh năm: 1992; địa chỉ: Lô E, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của chị T2 Bà Lưu T1 DNơi cư trú: 8 L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

(Văn bản ủy quyền ngày 16/10/2023; có mặt).

3.2. Anh Trần Anh T3, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

Người giám hộ của anh T3 Bà Tăng Thị Đ1, sinh năm 1954; địa chỉ: Số C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

3.3. Anh Dassé Jean L, sinh năm: 1976; nơi cư trú cuối cùng: Số C, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

3.4. Bà Dương Thanh Đ2, sinh năm: 1935; địa chỉ: Số D, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ2 Chị Nguyễn Thị Mai K1, sinh năm: 1955; địa chỉ: Số A, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng(Văn bản ủy quyền lập ngày 12/11/2014).

3.5. Anh Hoàng Minh T4, sinh năm: 1994; chị Trần Thủy T5, sinh năm: 1993; địa chỉ: Số I, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồngđịa chỉ liên lạc: Số B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

3.7. Anh Trương Đình T6, sinh năm: 1991; chị Ninh Hoàng T7, sinh năm: 1982; địa chỉ: Số A, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

3.8. Chị Hoàng Thị Thủy T8, sinh năm: 1968; địa chỉ: Số B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

3.9. Ủy ban nhân dân thành phố Đ25.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tôn Thiện S vụ: Chủ tịch.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Trương Tường V; Chức vụ: Phó trưởng phòng - Phòng T14(Văn bản ủy quyền ngày 30/5/2022)

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 28/9/2009, ngày 04/9/2012, và các lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M(do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ3 bày:

Ông M3 người anh trai là Nguyễn Văn S1(1937-2003), trước năm 1975 là Phó Trưởng ty văn hóa thể thao - giáo dục thanh niên thành phố Đ chủ sở hữu ngôi nhà xây gạch 2 tầng ở số C T, thành phố Đ. Căn nhà số C Tlà do ông S1đổi căn nhà số E, thành phố P ông Vũ Đình M4 bù thêm tiền cho ông M2từ năm 1972. Việc trao đổi nhà hoàn tất thủ tục từ năm 1972.

Trước khi lâm trọng bệnh, ông S1có viết một bản di chúc để lại di sản cho người thân của mình là ông M5 các con của ông S1bản di chúc có công chứng chứng thực tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1991, ông S1lấy vợ tên Tăng Thị Đ2hai người sống chung với nhau tại nhà số C Tvà có một con chung nên ông S1đã có tài sản riêng trước khi lấy bà Đ4 khi ông S1mất, bà Đ2không chịu trao tài sản của ông S1cho những người thừa kế di sản. Bà Đ2nhiều lần tự ý cho thuê nhà và tự ý khai tên mình đăng ký sở hữu

chủ ngôi nhà số C TViệc bà Đ2tự ý đứng tên đăng ký chủ sở hữu ngôi nhà số C Tlà trái quy định pháp luật. Chị T1là con chung của ông S1và bà Đ2được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc vào di chúc nên cũng được hưởng 2/3 suất của người thừa kế.

Nay ông Nguyễn Văn M(đã chết) những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ5 cầu Tòa án buộc bà Đ2phải thực hiện đúng di chúc của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C lại và trong di chúc ông Slcó nguyện vọng trích một phần trong khối di sản để làm từ thiện theo quy định.

Theo đơn khởi kiện ngày 16/4/2012, đơn khởi kiện bổ sung và các lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn T(T8Hạnh Đ1trình bày : Chị thống nhất với lời trình bày của chị K1về việc ông Slcó 4 người vợ và các con; nguồn gốc tài sản tranh chấp; việc ông S1lập di chúc; người đang trực tiếp quản lý tài sản tranh chấp. Bố của chị là ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C1 năm (1937-2003). Mẹ của chị là bà Tăng Thị L1 năm (1942- 1976). Ông S1chết có để lại di chúc. Di sản do ông S1để lại là nhà và đất tại số C T, Phường E, thành phố ĐĐây là tài sản riêng của ông S1tạo lập năm 1966, không liên quan đến bà Tăng Thị L2 S1và bà L1chỉ có một người con chung là chị Nguyễn Thị H2 Đ4(Nguyễn Thụy Hạnh Đ5

Nay chị yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế tại số C T, Phường E, thành phố Đ ý chí của ông S1thể hiện trong di chúc lập năm 1991, chị xin được nhận bằng hiện vật; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng ngày 13/5/2008, số 1974, quyển số 21/TP/CC-SCC/HĐDĐ của Phòng C2tỉnh Lâm Đồng vô hiệu vì khi công chứng bà Đ2không đưa các con riêng của ông S1là các đồng thừa kế vào tham gia; yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Tăng Thị Đ6 chị Hoàng Thị T9 T7giữa chị Hoàng Thị T9 T7và anh Hoàng M6 T3chị Trần Thủy T4giữa chị Hoàng Thị T9 T7và anh Trương Đ7 T5liên quan đến thửa đất số 31 tại số C Thủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà T15

Đối với kết quả thẩm định giá ngày 20/02/2023 của Công ty cổ phần T16 sản trị giá 77.584.900.000 đồng, chị đồng ý.

* Bị đơn :

- Bà Tăng Thị Đ2trình bày: Bà và ông S1kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường E Đngày 12/3/1992. Ông M7 K1chị Đ5đã kiện bà từ năm 2004 đến nay. Ủy ban nhân dân thành phố Đ Quyết định 135/QĐ-UBND ngày 06/02/2009 bác đơn của ông M7 K1chị Đ5liên quan đến thửa đất số 31 tờ bản đồ số 23 tại số C Tcơ quan thanh tra thành phố Đ đã xác minh trả lời, bởi lý do những người kiện bà là bịa đặt

và vu khống rằng: “Bà Đ2giả mạo giấy tờ nhà đất chiếm đoạt tài sản của ông Sl”. Họ đòi bà trả căn nhà số C, Phường E, thành phố Đ bán chia nhau.

Ngày 06/3/2013, bà Đ2yêu cầu những người kiện bà là vợ chính thức của ông Nguyễn Thái C2 minh họ là vợ là con của ông Nguyễn Thái C3 pháp luật kết hôn, khai sinh, ADN và chứng minh họ có chăm sóc phụng dưỡng ông C4 đau bệnh. Trách nhiệm của họ đối với căn nhà như việc tu bổ, sửa chữa, từ khi được nhận lại nhà cho đến nay đã 20 năm qua và nghĩa vụ đối với nhà nước như đóng thuế nhà đất hàng năm cũng như đóng góp công sức và tiền bạc vào căn nhà. Hiện bà là chủ sở hữu căn nhà với đầy đủ giấy tờ chứng minh sở hữu căn nhà theo đúng quy định của pháp luật, là đồng sở hữu nhà cửa với ông Nguyễn Thái C5 năm 1993 đến nay, là sở hữu chủ căn nhà với con gái của bà là chị Nguyễn Tăng U T1

Nay, bà Đ2không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Vì thực tế bà đã thi hành xong Bản án dân sự phúc thẩm số 358/2018/DS-PT ngày 23/11/2018 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và có giấy xác nhận của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng về việc đã thi hành án xong.

- Phòng công chứng số A tỉnh Lâm Đồngtrình bày: Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ, việc công chứng văn bản nhận tài sản trên là đúng quy trình thủ tục theo quy định của pháp luật và có niêm yết công khai tại địa phương ông S1(Cương). Trong quá trình niêm yết công khai không có ai khiếu nại nên văn bản công chứng đó đã có hiệu lực. Do đó, Tòa án cho rằng có chứng cứ chứng minh được việc công chứng văn bản trên là trái pháp luật thì Tòa án giải quyết tuyên văn bản công chứng trên vô hiệu.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân thành phố Đ tại Công văn số 3231/UBND ngày 25/6/2013: Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho bà T17(N số C T, Phường E, thành phố Đ sau: Căn nhà số C T, Phường E, thành phố Đ đây của ông Vũ Đình M8 dựng năm 1966. Năm 1972, ông Vũ Đình M9 đổi nhà với ông Nguyễn Văn S2 nhận ngôi nhà ở PleiKu. Sau khi trao đổi, gia đình ông Nguyễn Văn S3 dụng đến sau ngày giải phóng ông S1đi học tập cải tạo, ngôi nhà do Công an tỉnh L. Sau khi đi học tập cải tạo về ông S1được Ủy ban nhân dân tỉnh L lại quyền sử dụng theo Quyết định số 734/QĐ-UB ngày 23/12/1989 về việc giao trả quyền sử dụng ngôi nhà số C T, Phường E, thành phố Đ gia đình ông Nguyễn Văn S1

Ngày 05/4/1993, Sở Xây dựng tỉnh Lcấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 9453/NĐ/XDQ52 cho ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C6 Tăng Thị Đ2căn nhà số C T, Phường E, thành phố Đ tổng diện tích 223,02m2, diện tích sử dụng chính 136,64m2.

Ngày 14/10/2003, ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C7, căn nhà số C Tdo bà Tăng Thị Đ6 chị Nguyễn Tăng U Tlquản lý sử dụng. Năm 2003-2004, bà Đ2làm đơn xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cùng thời điểm này, chị Nguyễn Thị Mai K1(con ông S1có đơn tranh chấp khiếu nại tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đòi hưởng quyền thừa kế theo di chúc do ông Nguyễn Văn S4 ngày 26/11/1991.

Ngày 26/8/2006, Phòng Tcó Tờ trình số 322/TT- TN&MT về việc giải quyết hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho bà Đ2với nội dung: “...Bà Đ2đã chấp hành và thực hiện theo hướng dẫn để liên hệ với các ban ngành thực hiện việc thừa kế và chia di sản thừa kế. Theo Thông báo trả lại đơn khởi kiện số 65/TB-TA ngày 02/8/2006 việc thừa kế và chia di sản thừa kế là không thực hiện được. Theo ý kiến bà Đ2do trong hàng thừa kế còn có chị Nguyễn Thị M10 K1và anh Dassé J L2hiện đang ở nước ngoài là con của ông Nguyễn Thái C8

- Ngày 19/9/2006, Ủy ban nhân dân thành phố Đ Văn bản số 3315/UBND về việc quyết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn nhà số C T, Phường E, thành phố Đ nội dung: “Thống nhất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở cho ông Nguyễn Văn S1(N số C, Phường E, T, để tránh việc tranh chấp xảy ra giữa các bên có liên quan đến việc thừa kế, đồng thời để đảm bảo việc quản lý nhà nước về đất đai theo quy định thì trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần phải ghi chú (hoặc ghi ở trang 4) là “chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”.

- Ngày 27/11/2006, Ủy ban nhân dân thành phố Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 140589 cho bà T17(chết) diện tích đất 1345,28m2 thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23 tại số C, Phường E, T sử dụng đất: đất ở tại đô thị; tại mục IV của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi: “chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”.

- Ngày 04/5/2009, Ủy ban nhân dân thành phố Đ25 hành Quyết định số 1054/QĐ-UBND về việc thu hồi và hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 140589 do cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở mới (do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở số AC 140589 bị rách) và cấp lại giấy chứng nhận số AO 721401 cho bà Đ2ông S1(chết) đối với diện tích đất 1345,28m2 nêu trên, tại mục IV của giấy chứng nhận vẫn ghi: “chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất, không được thực hiện các giao dịch về quyền sử dụng đất”.

Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 140589 cho ông Slbà Đ2dựa trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số

9453/NĐ/XDQ52 do Sở xây dựng tỉnh Lcấp cho ông S1bà Đ2Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 140589 được thực hiện theo đúng các trình tự, thủ tục quy định.

Về việc các nguyên đơn yêu cầu hủy giấy chứng nhận do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cho bà Đ2chị T1tại số C T, Phường E, thành phố Đ

Ngày 29/9/2008, bà Đ2có đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại số C T, Phường E, thành phố Đ.

Ngày 27/3/2009, Ủy ban nhân dân thành phố Đ Văn bản số 921/UBND về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến thừa kế tại số nhà C T, Phường E, thành phố Đ

Ngày 04/5/2009, Ủy ban nhân dân thành phố Đ lại giấy chứng nhận số AO 721401 cho ông S1(chết), bà Đ2đúng theo nội dung ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 140589 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ ngày 27/11/2006.

Như vậy, theo hồ sơ lưu trữ tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Đ hiện căn nhà số C T, Phường E thành phố Đ nhân dân thành phố Đcấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S1(chết), bà Đ2không có giấy chứng nhận nào cấp cho bà Đ2chị T1

Chị Nguyễn Tăng U T1trình bày: Chị là con của bà Tăng Thị Đ8 đồng ý với lời trình bày của bà Đ2và xin ủy quyền phần tài sản thừa kế của chị cho bà Đ2có toàn quyết định.

Sau khi thụ lý lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm: Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Hoàng Thị T9 T7anh H T3chị Trần Thủy T4anh T T5chị N T6nhưng những người này không đến Tòa án và không văn bản trình bày ý kiến.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày 24/5/2016 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M10 K1ông Nguyễn Văn Mchị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ5về việc kiện “tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Tăng Thị Đ9 công chứng số A tỉnh Lâm Đồng
  2. Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C9 26/11/1991 tại Phòng C phố H là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.

Xác định nhà và diện tích đất ở đô thị 1.578,23m2 thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23, tại số C, Phường E, thành phố Đ giá 13.371.767.328 đồng là tài sản chung của ông C6 Đ2bà L1bà Đtrong đó phần di sản của ông S1là 50% trị giá: 6.685.883.660 đồng; phần của bà T18 20% trị giá 2.674.353.464 đồng; phần của bà Dương Thị Thanh Đ10 15% trị giá 2.005.765.098 đồng; phần của bà T19 15% trị giá 2.005.765.098 đồng.

Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông S1gồm: Bà Dương Thị T11 Đ6chị Nguyễn Thị M10 K1chị N(T8Hạnh Đ5anh Dassé J1 T1

Tổng kỷ phần của bà Tăng Thị Đ11 chia trị giá: 3.417.229.426 đồng;

Kỷ phần chị Nguyễn Tăng U T1được chia trị giá 742.875.962 đồng;

Kỷ phần bà Dương Thị T11 Đ6được chia trị giá 2.748.641.060 đồng;

Kỷ phần bà Tăng Thị L3 chia trị giá 2.005.765.098 đồng;

Kỷ phần của ông Nguyễn Văn Mchị Nguyễn Thị M11 K1chị N(T8Hạnh Đ5anh D2Jean Louis mỗi người được chia trị giá 891.451.155 đồng;

Kỷ phần di sản của ông C(S1để làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi là 891.451.155 đồng.

Hủy văn bản nhận tài sản thừa kế giữa bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 T1nhận tài sản của ông S1(Cương) ngày 13/5/2008 số 1974, quyển số 21/TP/CC-SCC/HĐDĐ tại Phòng C2tỉnh Lâm Đồng.

Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AC 140589 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cho bà Tăng Thị Đ2và ông Nguyễn Văn S1(chết) ngày 27/11/2006.

Giao cho chị Nguyễn Thị H2 Đ4(Nguyễn Thụy H3 Đ5chị Nguyễn Thị M11 K1diện tích đất 461,79m2 thuộc một phần thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23 tại số C, Phường E, thành phố Đ đất có tứ cận phía Bắc giáp đường Tdài 14m; phía Tây giáp thửa đất số 02 dài 33,47m; phía Đông giáp nhà đất chia cho bà Đ2dài 32,5m (đã trừ khoảng cách giữa hai lô tính từ sát tường nhà số C T, Phường E, thành phố Đ cho bà Đ2là 2m); phía Nam giáp thửa đất số 19 dài 14m. Trên đất có 02 cây dừa, 03 cây hồng, 01 cây hoa sữa, 01 cây đa, 01 cây hoa sứ inđô, 02 cây xoài nhỏ, 01 cây tùng cúc. Tổng trị giá 3.735.568.930 đồng. (Có họa đồ kèm theo).

Giao cho bà Tăng Thị Đ12 pdiện tích đất còn lại 1.116,44m2 thuộc một phần thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23 tại số C, Phường E, thành phố ĐLô đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đường Tdài 34,06m; phía Đông giáp thửa đất số 05 dài 32,11m; phía Nam giáp thửa số 19 dài 34,25m; phía Tây giáp phần diện tích đất giao cho chị Đ5chị K1dài 32,5m trên đất có 01 biệt thự hạng 2 diện tích 238,28m2; 01 nhà

xây cấp 4 diện tích 96,40m2. Tổng trị giá 9.636.198.398 đồng. (Có đồ họa kèm theo).

Về nghĩa vụ thanh toán:

- Buộc bà Tăng Thị Đ13 có trách nhiệm thanh toán lại phần giá trị chênh lệch cho chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ5và chị Nguyễn Thị M11 K1số tiền 53.098.478 đồng; thanh toán cho anh D1 JLouis số tiền 891.451.155 đồng (do chị Đ5quản lý); thanh toán cho chị Nguyễn Tăng U1 T1số tiền 742.875.962 đồng; thanh toán cho bà Dương Thị T11 Đ6số tiền 2.748.641.060 đồng; thanh toán lại cho ông Nguyễn Văn M12 phần di sản được nhận là 891.451.155 đồng; thanh toán lại cho ông M13 tiền 891.451.155 đồng để ông M14 từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi theo nội dung di chúc của ông C(Sửu).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Phạm Lê V1 Công ty cổ phần D3 việc kiện “yêu cầu hủy hợp đồng thuê nhà đất và đòi bồi thường thiệt hại” đối với bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 T1

Hủy hợp đồng thuê nhà ngày 26/8/2014 giữa ông Phạm Lê V1 bà T20

Buộc bà Tăng Thị Đ14 trách nhiệm thanh toán lại cho ông Phạm Lê V1 Công ty cổ phần D4 tiền 564.469.873 đồng (trong đó tiền thuê nhà do bà Đ15 nhận là 200.000.000 đồng và bồi thường tiền sửa chữa nhà số C T, Phường E, thành phố Đ 364.469.873 đồng).

-Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Phạm Lê V1 Công ty cổ phần D5 với số tiền 114.430.127 đồng (trong đó số tiền lãi 31.300.000 đồng và tiền đầu tư sửa chữa 83.130.127 đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/5/2016, bị đơn bà Tăng Thị Đ2và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Tăng U1 T1có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Ngày 10/6/2016, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần A T2do bà Tăng Thị Đ2là người giám hộ có đơn kháng cáo yêu cầu được chia thừa kế vì anh là con nuôi của ông S1

Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 358/2018/DS-PT ngày 23/11/2018 Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 T1Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần A T2

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày 23 và 24/5/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng theo hướng:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị M11 K1ông Nguyễn Văn M(có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M15 bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đchị N(T8Hạnh Đ5về việc kiện tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật.
  2. Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C9 26/11/1991 tại Phòng C phố H là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.
  3. Xác định căn nhà và diện tích đất ở đô thị 1.578,23m2 thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23, tại số C, Phường E, thành phố Đ giá 13.371.767.328 đồng là tài sản chung của ông Nguyễn Văn S5 bà Tăng Thị Đ16 đó phần di sản của ông S1là 50% trị giá: 6.685.883.660 đồng; phần của bà T18 50% trị giá: 6.685.883.660 đồng.
  4. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông S1gồm: Bà Dương Thị T11 Đóchị Nguyễn Thị M11 K1chị N(T8Hạnh Đ5anh Dassé J1 T1
  5. Tổng kỷ phần của bà Tăng Thị Đ11 chia trị giá: 7.428.759.622 đồng;
  6. Kỷ phần của chị Nguyễn Tăng U1 T1được chia trị giá 742.875.962 đồng;
  7. Kỷ phần của bà Dương Thị T11 Đ6được chia trị giá 742.875.962 đồng;
  8. Kỷ phần của ông M(những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M16 bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M1anh Nguyễn Trọng Đ17), chị K1chị Đ5anh L2được chia theo di chúc trị giá 891.451.155 đồng;
  9. Kỷ phần của ông S1để làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi trị giá 891.451.155 đồng.
  10. Hủy văn bản nhận tài sản thừa kế giữa bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 T1nhận tài sản của ông S1(Cương) ngày 13/5/2008 số 1974, quyển số 21/TP/CC-SCC/HĐDĐ tại Phòng C2tỉnh Lâm Đồng.
  11. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số AC 140589 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cho bà Tăng Thị Đ2và ông Nguyễn Văn S1(chết) ngày 27/11/2006, để cấp lại cho bà Tăng Thị Đ2theo quy định của pháp luật.
  12. Bà Tăng Thị Đ11 quyền sở hữu căn nhà và diện tích đất ở đô thị 1.578,23m2 thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23, tại số C, Phường E, thành phố Đ
  13. Bà Tăng Thị Đ11 đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà theo luật định.

9. Về nghĩa vụ thanh toán:

Bà Tăng Thị Đ2có nghĩa vụ thanh toán các kỷ phần thừa kế cho những người cụ thể sau:

  • + Chị Nguyễn Tăng U1 T1số tiền: 742.875.962 đồng.
  • + Bà Dương Thị Thanh Đ6số tiền: 742.875.962 đồng.
  • + Ông Nguyễn Văn M(những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M16 bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ18 tiền 891.451.155 đồng.
  • + Chị Nguyễn Thị M11 K1số tiền 891.451.155 đồng.
  • + Chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ5số tiền 891.451.155 đồng.
  • + Anh D1 JLouis số tiền 891.451.155 đồng (chị Đ5nhận và quản lý, có trách nhiệm giao lại cho anh L4
  • + Ông Nguyễn Văn M(những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M16 bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ19 làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi là 891.451.155 đồng.

10. Hủy một phần bản án sơ thẩm về hợp đồng thuê nhà giữa bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 T1với ông Phạm Lê V2 hồ sơ về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 58/2021/DS-GĐT ngày 23/11/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử:

  1. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 50/2021/KN-DS ngày 06/9/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  2. Hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm số 358/2018/DS-PT ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về phần chia di sản thừa kế bằng hiện vật, bằng giá trị giữa các đương sự và hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2016/DS-ST ngày 24/5/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng về vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc và theo pháp luật; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng thuê nhà đất và đòi bồi thường thiệt hại về tài sản” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Mchị Nguyễn Thị M11 K1chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ5với bị đơn bà Tăng Thị Đ9 công chứng số A tỉnh Lâm Đồng

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, quyết định:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), chị Nguyễn Thụy Hạnh Đ21(Nguyễn Thị H2 Đ4về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Tăng Thị Đ9 công chứng số A tỉnh Lâm Đồng
  2. Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái Cngày 26/11/1991 có hiệu lực pháp luật.
  3. Xác định quyền sử dụng đất 1578,23m2 thuộc thửa 31 tờ bản đồ số 23 tại số C, phường E, T 77.584.900 đồng là tài sản chung của ông Slbà Đ2Trong đó, phần di sản của ông S1là ½ giá trị 38.792.450.000 đồng. Phần của bà Đ2là ½ giá trị 38.792.450.000 đồng.
  4. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái Chà D Đóchị Nguyễn Thị M11 K1chị N21 T1

Tổng kỷ phần của bà Tăng Thị Đ2được chia trị giá 43.102.722.222 đồng;

- Kỷ phần của ông M17 chết (do bà H1 Mlanh Đ6là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), chị Đ4anh L2mỗi người được chia trị giá 5.172.326.667 đồng.

Kỷ phần di sản của ông C(S1để làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi là 5.172.326.667 đồng.

- Về nghĩa vụ thanh toán:

Bà Tăng Thị Đ14 nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) được nhận số tiền 5.172.326.667 đồng - 891.415.155 đồng = 4.280.911.512 đồng. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1

Bà Tăng Thị Đ2có nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ4được nhận số tiền 5.172.326.667 đồng - 891.415.155 đồng = 4.280.911.512 đồng. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1

Bà Tăng Thị Đ2có nghĩa vụ thanh toán cho anh D1 JLuois được nhận số tiền 5.172.326.667 đồng - 891.415.155 đồng = 4.280.911.512 đồng. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án

dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1

Đối với kỷ phần của anh D1 JLuois được nhận đã được Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tuyên bố mất tích theo Quyết định tuyên bố mất tích số 01/2014/QĐ-ST ngày 20/3/2014 theo yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Đ4nên cần giao cho chị Nguyễn Thị H2 Đ4(Nguyễn Thụy H3 Đ5 tạm quản lý kỷ phần của anh Dassé J L. Khi nào có phát sinh tranh chấp chị Nguyễn Thị H2 Đ4(Nguyễn Thụy Hạnh Đ có trách nhiệm trả lại cho anh Dassé J L.

Bà Tăng Thị Đ14 nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) được nhận số tiền 5.172.326.667 đồng - 891.415.155 đồng = 4.280.911.512 đồng là kỷ phần của ông Nguyễn Văn S2 làm từ thiện. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ2

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), chị Nguyễn Thụy Hạnh Đ21(Nguyễn Thị H2 Đ4về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng văn bản nhận tài sản thừa kế giữa bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 Tlnhận tài sản của ông S1(Cương) ngày 13/5/2008 số 1974, quyển số 21/TP/CC-SCC/HĐDĐ tại Phòng C2tỉnh Lâm Đồng vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số AC 140589 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cho bà T17(chết) ngày 27/11/2006 đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23 tại số C T, Phường E, thành phố Đ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Tăng Thị Đ6 chị Hoàng Thị T9 T7; giữa chị Hoàng Thị T9 T7và anh Hoàng Minh T4, chị Trần T12 T4; giữa chị Hoàng Thị T9 T7và anh Trương Đình T6; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Tăng Thị Đ1, chị Hoàng Thị T9 T7, anh Hoàng M6 T3, chị Trần T12 T4, anh Trương Đình T6 liên quan đến thửa đất số 31 tại số C T, Phường E, thành phố Đ

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, việc thi hành án và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 08 đến 24 tháng 8 năm 2023, những người thừa kế tố tụng của nguyên đơn bà Lê Thị N HNguyễn Q(do ông Bùi Văn K2 diện), chị Nguyễn Thị Hạnh Đ22 Tăng Uyên T1và bà Tăng Thị Đ1, người liên quan chị Nguyễn Tăng N1 T9(do bà Lưu Thùy D2 diện) kháng cáo bản án sơ thẩm về phần chia di sản bằng hiện vật và xác định lại giá trị di sản thừa kế.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Những người kháng cáo, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Đại diện hợp pháp của nguyên đơn cho rằng nguyện vọng là muốn được chia đất để có chỗ thờ cúng ông bà, còn chia giá trị dù tăng lên như án sơ thẩm xử thì bà Đ2cũng không có tiền để hoàn lại; Còn phía đại diện hợp pháp của bị đơn bà Đ2thì đề nghị tính giá trị di sản tại thời điểm chuyển nhượng năm 2020, giá 57.000.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của những người thừa kế tố tụng của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, thấy rằng:

[2.1]. Tại Quyết định giám đốc thẩm số 58/20121/DS-GĐT ngày 23 tháng 11 năm 2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên “hủy phần thừa kế bằng hiện vật, bằng giá trị giữa các đương sự”. Đồng thời có nhận định: ،، quá trình tố tụng, chị K3 Đ4 (nguyên đơn) yêu cầu được chia bằng hiện vật (chia đất) mà không nhận giá trị...Tòa cấp phúc thẩm quyết định cho bà Đ1(bị đơn) nhận toàn bộ nhà đất và có nghĩa vụ thanh toán giá trị các kỷ phần thừa kế cho những người thừa kế là không phù hợp và không công bằng” và khi giải quyết lại Tòa sơ thẩm cần xác minh lại hiện trạng nhà đất số C T sau khi bản phúc thẩm lần đầu có hiệu lực pháp luật để giải quyết hậu quả của việc thi hành án (BL: 846).

Như vậy, theo Quyết định giám đốc thẩm nêu trên thì các phần khác của vụ án chia thừa kế: Thời hiệu, di chúc về di sản chia thừa kế, hàng thừa kế theo Bản án sơ, phúc thẩm xác định trước đây là chính xác, đúng theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét đánh giá lại giá trị di sản, chia hiện vật hay giá trị và xem xét hậu quả của quá trình thi hành án.

[2.2]. Về di sản thừa kế, hàng thừa kế và giá trị di sản thừa kế:

Hồ sơ thể hiện:

  • - Xác định nhà và đất tại số C Ttheo di chúc của ông Nguyễn Văn S1(chết ngày 27/11/2006) là di sản thừa kế.
  • - Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, năm 2000 thì khối tài sản này ông S1và bà Tăng Thị Đ2mỗi người có quyền sở hữu sử dụng 1/2 tài sản này. Do hiện nay bà Đ2còn sống nên xác định trong khối tài sản nhà và đất tại số C Tphần sở hữu sử dụng của bà Đ2là 50%, phần còn lại 50% của ông S1được xem xét giải quyết thừa kế.
  • - Theo kết quả đo đạc của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Đdiện tích đất thực tế 1.578,23m² thuộc thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23.
  • - Theo chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T22 giá trị tài sản quyền sử dụng đất tranh chấp là: 77.584.900.000 đồng.

Bản án sơ thẩm xác định phần của ông S1, bà Đ2mỗi người hưởng 1/2 trị giá: 77.584.900.000 đồng : 2 = 38.792.450.000 đồng; Đồng thời giao cho bà Đ2phần hiện vật và buộc bà Đ2thanh toán giá trị kỷ phần cho thừa kế thứ nhất của ông S1(ông C10 6 người là: Bà Dương Thị T11 Đ6chị Nguyễn Thị M11 K1chị N21 T1mỗi kỷ phần bằng 6.465.408.333 đồng (là một suất thừa kế theo pháp luật của ông S1

[2.3]. Xét kháng cáo về giá trị di sản thừa kế, yêu cầu được chia đất, thấy rằng:

Sau khi Bản án phúc thẩm (lần 1) số 358/2018/DS-PT ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật bà Đ2đã nộp đủ số tiền thi hành án để thực hiện nghĩa vụ thanh toán các kỷ phần thừa kế cho những người thừa kế khác và đã tiến hành thủ tục đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 31 (gốc 6) tờ bản đồ số 23 và được Ủy ban nhân dân thành phố Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 721401 ngày 01/11/2019; Ngày 02/6/2020, đăng ký biến động sang tên chị Hoàng Thị T9 T7theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 12/5/2020. Đến ngày 18/9/2020, được đăng ký biến động sang tên anh Hoàng M6 T3 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/9/2020 và ngày 26/4/2021; Đến ngày 23/6/2021, được đăng ký biến động sang tên anh T23 T6theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngày 18/9/2020, được đăng ký biến động thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Ngân hàng thương mại cổ phần N2– Chi nhánh B

Theo quy định tại khoản 3 Điều 135 Luật thi hành án dân sự năm 2008:

“Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản.

Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản”.

Như vậy, phía bị đơn bà Đ2được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật và thực hiện giao dịch chuyển giao tài sản cho người thứ ba ngay tình và đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng là không có căn cứ. Đồng thời, kháng cáo của chị Đ4T1yêu cầu chia di sản thừa kế bằng hiện vật là không thể thực hiện được; Án sơ thẩm chia bằng giá trị là phù hợp với thực tế hiện trạng nhà đất số C

Tuy nhiên, Ásơ thẩm căn cứ theo giá trị chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T22 là không phù hợp, bởi lẽ:

  • - Phần di sản nhà đất số C bà Đ2đã chuyển nhượng cho người thứ ba ngay tình vào 12/5/2020.
  • - Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 12/5/2020, thì giá trị chuyển nhượng toàn bộ phần căn nhà đất số C 57.000.000.000 đồng.

Do đó, có căn cứ xác định giá trị di sản để chia là 57.000.000.000 đồng, thời điểm mà bà Đ2được hưởng; Tòa sơ thẩm lấy giá 77.584.900.000 đồng, chênh lệch số tiền 20.584.900.000 đồng là không đảm bảo quyền lợi cho bà Đ1.

[2.4]. Xác định lại giá trị kỷ phần và nghĩa vụ thanh toán lại cho các đồng thừa kế như sau:

- Phần di sản của ông S1bà Đ2mỗi người hưởng 1/2 trị giá: 57.000.000.000 đồng : 2 = 28.500.000.000 đồng; Đồng thời giao cho bà Đ2phần hiện vật và buộc bà Đ2thanh toán giá trị kỷ phần cho thừa kế thứ nhất của ông S1(ông C10 6 người là: Bà Dương Thị T11 Đ6chị Nguyễn Thị M11 K1chị N(T8Hạnh Đ4anh Dasse Jean L3bà Tăng Thị Đ2chị N T1mỗi kỷ phần bằng 4.750.000.000đồng.

- Kỷ phần thừa kế của bà Đóbà Đ2chị T1mỗi người được hưởng di sản của ông S1không phụ thuộc vào nội dung di chúc là 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật trị giá 3.167.000.000 đồng (làm tròn).

- Phần di sản còn lại (28.500.000.000 đồng - (3.167.000.000 đồng x 3) = 19.000.000.000 đồng sẽ được chia theo nội dung di chúc cho ông M7 Klanh L2và chị Đ4một phần làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi cụ thể là: 19.000.000.000 đồng : 5 = 3.800.000.000 đồng.

[2.5]. Như vậy: Kỷ phần bà Tăng Thị Đ11 chia trị giá 28.500.000.000 đồng + 3.167.000.000 đồng = 31.667.000.000 đồng; Kỷ phần chị Nguyễn Tăng U1 T1được chia trị giá 3.167.000.000 đồng; Kỷ phần bà Dương Thị T11 Đ6được chia trị giá 3.167.000.000 đồng; Kỷ phần ông M7 Đ4chị Klanh L2mỗi người được chia theo di chúc trị giá 3.800.000.000 đồng và kỷ phần của ông S1để làm từ thiện là 3.800.000.000 đồng.

[3.] Về kết quả thi hành án đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 358/2018/DS-PT ngày 23/11/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thể hiện tại Văn bản số 219/CTHADS-NV ngày 06/4/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng và nhận định tại mục [2.5] của bản án sơ thẩm số 37.

[4]. Nghĩa vụ thanh toán lại giá trị kỷ phần cho các đồng thừa kế:

Từ kỷ phần thừa kế mà hàng thừa kế được nhận thể hiện ở mục [2.5] so với kết quả đã thi hành án thì bà Đ2có nghĩa vụ thanh toán cho các hàng thừa kế như sau:

  • - Bà Đ2phải thanh toán cho ông M17 chết (do bà H1 Mlanh Đ6là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) được nhận số tiền 3.858.584.845 đồng (4.750.000.000 đồng - 891.415.155 đồng). Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1
  • - Bà Đ2phải thanh toán cho chị Đ4số tiền 3.858.584.845 đồng (4.750.000.000 đồng - 891.415.155 đồng). Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1
  • - Bà Đ2phải thanh toán cho anh L2số tiền 3.858.584.845 đồng (4.750.000.000 đồng - 891.415.155 đồng). Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1
  • - Đối với kỷ phần của anh L2đã được Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tuyên bố mất tích theo Quyết định tuyên bố mất tích số 01/2014/QĐ-ST ngày 20/3/2014

theo yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Đ4nên cần giao cho chị Đ4tạm quản lý kỷ phần của anh L5 nào có phát sinh tranh chấp chị Đ4có trách nhiệm trả lại cho anh L4

  • - Đối với kỷ phần di sản làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi theo nội dung di chúc do ông S4 đã chỉ định người thực hiện là ông M18 cần phải giao cho ông M19 diện quản lý thực hiện theo nội dung di chúc. Nay ông M17 chết nên cần giao lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M15 bà H1 Mlanh Đóquản lý để thực hiện theo quy định của pháp luật.
  • - Đối với kỷ phần của chị T1được chia 3.167.000.000 đồng, chị T1không yêu cầu và tự thỏa thuận với bà Đ2nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với kỷ phần của bà Đóchị K1được chia; Do bà Đ6chị K1đều không yêu cầu trong vụ án này nên giao cho bà Đ2tiếp tục quản lý phần chênh lệch sau khi đã trừ đi số tiền mà bà Đ2đã thi hành án cho bà Đóchị K1Trường hợp bà Đóchị K1có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[5]. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Đ1, theo hướng sửa bản án sơ thẩm về việc xác định lại giá trị di sản.

Quan điểm của Viện kiểm sát cấp cao tham gia tại phiên tòa đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6]. Về chi phí tố tụng, án phí:

[6.1]. Về chi phí tố tụng: Các đương sự không kháng cáo nên giữ nguyên như án sơ thẩm đã tuyên.

[6.2]. Về án phí: Do xác định lại giá trị kỷ phần di sản nên án phí sơ thẩm có giá ngạch được tính lại như sau:

  • - Bà Tăng Thị Đ2được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm do người cao tuổi.
  • - Ông M17 chết (do bà H1 M1anh Đólà người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Chị Đ4phải nộp 95.340.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Anh L2phải nộp 95.340.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  • - Ông M17 chết (do bà H1 Mlanh Đólà người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) phải nộp 95.340.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa kế làm từ thiện.

[7]. Án phí phúc thẩm:

Chị Nguyễn Thị M11 K1và chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ4phải chịu 300.000 đồng, do kháng cáo không được chấp nhận.

[8]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Chấp nhận kháng cáo của bà Tăng Thị Đ1, Nguyễn Tăng U1 T1; Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Mai K1Nguyễn Thị H4 Đ4. Sửa 01 phần bản án dân sự sơ thẩm số 37/2023/DS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), chị Nguyễn Thụy Hạnh Đ21(Nguyễn Thị H4 Đ4về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với bị đơn bà Tăng Thị Đ9 công chứng số A tỉnh Lâm Đồng
  2. Tuyên bố di chúc của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái C9 26/11/1991 có hiệu lực pháp luật.
  3. Xác định quyền sử dụng đất 1578,23m2 thuộc thửa 31 tờ bản đồ số 23 tại số C, phường E, T 57.000.000.000 đồng là tài sản chung của ông S1bà Đ2Trong đó, phần di sản của ông S1là ½ giá trị 28.500.000.000 đồng. Phần của bà Đ2là ½ giá trị 28.500.000.000 đồng.
  4. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn S1(Nguyễn Thái Cbà D Đóchị Nguyễn Thị M11 K1chị N(T8Hạnh Đ4anh Dasse Jean L3bà Tăng Thị Đ2chị N T1
  5. Kỷ phần các đồng thừa kế được chia:
    • - Tổng kỷ phần của bà T24 chia trị giá 31.667.000.000 đồng.
    • - Kỷ phần của ông M17 chết (do bà H1 Mlanh Đ6là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), chị Đ4anh L2mỗi người được chia trị giá 3.800.000.000 đồng.
    • - Kỷ phần di sản của ông C(S1để làm từ thiện giúp đỡ các trung tâm dưỡng lão, trại trẻ mồ côi là 3.800.000.000 đồng.
  1. Về nghĩa vụ thanh toán:
    • - Bà Tăng Thị Đ2có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) được nhận số tiền 3.858.584.845đồng. (Đối với số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1).
    • - Bà T25 nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ4được nhận số tiền 3.858.584.845đồng. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1.
    • - Bà T25 nghĩa vụ thanh toán cho anh D1 JLuois được nhận số tiền 3.858.584.845đồng. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1.
    • Đối với kỷ phần của anh D1 JLuois được nhận đã được Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng tuyên bố mất tích theo Quyết định tuyên bố mất tích số 01/2014/QĐ-ST ngày 20/3/2014 theo yêu cầu tuyên bố mất tích của chị Đ4nên cần giao cho chị Nguyễn Thị H4 Đ4(Nguyễn Thụy H3 Đ5 tạm quản lý kỷ phần của anh Dassé J L. Khi nào có phát sinh tranh chấp chị Nguyễn Thị H4 Đ4(Nguyễn Thụy Hạnh Đ có trách nhiệm trả lại cho anh Dassé J L.
    • - Bà T25 nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) được nhận số tiền 3.858.584.845đồng là kỷ phần của ông Nguyễn Văn S2 làm từ thiện. (Riêng số tiền lãi phát sinh từ số tiền 891.415.155 đồng kể từ ngày bà Đ2nộp và Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng đã gửi tiết kiệm thì thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Đ1
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng), chị Nguyễn Thụy Hạnh Đ21(Nguyễn Thị H4 Đ4về việc yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng văn bản nhận tài sản thừa kế giữa bà Tăng Thị Đ2chị Nguyễn Tăng U1 Tlnhận tài sản của ông S1(Cương) ngày 13/5/2008 số 1974, quyển số 21/TP/CC-SCC/HĐDĐ tại Phòng C2tỉnh Lâm Đồng vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ký hiệu số AC 140589 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ cho bà T17(chết) ngày 27/11/2006 đối với thửa đất số 31, tờ bản đồ số 23 tại số C T, Phường E, thành phố Đ các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Tăng Thị Đ6 chị Hoàng Thị T9

T7; giữa chị Hoàng Thị T9 T7và anh Hoàng Minh T4, chị Trần T12 T4; giữa chị Hoàng Thị T9 T7và anh Trương Đình T6; hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Tăng Thị Đ1, chị Hoàng Thị T9 T7, anh Hoàng M6 T3, chị Trần T12 T4, anh Trương Đình T6 liên quan đến thửa đất số 31 tại số C, Phường E, thành phố Đ

  1. Về chi phí tố tụng:

    Buộc bị đơn bà Tăng Thị Đ14 nghĩa vụ thanh toán lại cho chị Nguyễn Thị H4 Đ4(Nguyễn Thụy H3 Đ5số tiền chi phí tố tụng là 101.361.250 đồng.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bà Tăng Thị Đ2được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Những người người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn M(bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M1anh Nguyễn Trọng Đ23) được miễn tiền án phí, nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí 20.000.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí ngày 21/01/2013 (Do chị Đ5nộp và 200.000 đồng theo biên lai thu số 0000889 ngày 07/5/2013 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
    • - Chị Nguyễn Thị Hạnh Đ24(Nguyễn Thụy Hạnh Đ phải nộp 95.340.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 20.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp vào tài khoản 3944 ngày 21/01/2013 và 200.000 đồng theo biên lai thu số 0000890 ngày 07/5/2013 và 18.543.534 đồng theo biên lai thu số 0006488 ngày 13/9/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Chị Nguyễn Thị Hạnh Đ24(Nguyễn Thụy H3 Đ5còn phải nộp 75.140.000 đồng.
    • - Anh Dassé J L phải nộp 95.340.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 38.743.534 đồng nộp theo biên lai thu số 0006489 ngày 13/9/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Anh Dassé Jean L còn phải nộp 74.428.793 đồng.
    • - Ông Nguyễn Văn M17 chết (do bà Lê Thị Nguyên Hanh Nguyễn Quang M2 Nguyễn Trọng Đ20 người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng) phải nộp 95.340.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa kế làm từ thiện.

    Trong quá trình thi hành án, đối với số tiền đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng, sẽ được đối trừ theo quyết định bản án. Phần còn lại tiếp tục nộp.

  3. Án phí phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị M11 K1và chị Nguyễn T10(T8Hạnh Đ5phải chịu 300.000 đồng, do kháng cáo không được chấp nhận.
  1. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: DS, VP, 21bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 774/2024/DS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu chia thừa kế; tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 774/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chia thừa kế; tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger