TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 774/2024/HC-PT Ngày: 12-7-2024 V/v Khiếu kiện Quyết định hành chính. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vương Minh Tâm |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Văn Ý |
| Ông Đỗ Đình Thanh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 358/2024/TLPT-HC ngày 06 tháng 4 năm 2024 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1983/2024/QĐPT-HC ngày 27 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Người khởi kiện:
Ông Võ Đ, sinh năm 1995;
Nơi thường trú: Khóm B, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau.
Nơi cư trú: số B, đường N, khu phố B, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt).
Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T; địa chỉ: F Đường C, khu phố E, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quang K – Giám đốc (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đặng Đa L – Phó Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T (vắng mặt, có đơn xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Văn Tiến D – Giám đốc (vắng mặt)
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Minh X – Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Võ Đ là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người khởi kiện ông Võ Đ trình bày:
Ông là người có quyền sử dụng phần đất diện tích 1.008,6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo giấy chứng nhận số: DK187352 có số vào sổ: CS09195 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh T cấp ngày 02/02/2023, ông yêu cầu thực hiện thủ tục tách thửa phần đất trên để chuyển nhượng.
Ngày 06/02/2023 ông nộp hồ sơ tách thửa đối với quyền sử dụng đất nói trên tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện T.
Ngày 13/02/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T - chi nhánh huyện T có thông báo số: 191/TB-VPĐKĐĐ-CNTB ban hành với nội dung không đồng ý yêu cầu tách thửa chuyển nhượng.
Ngày 20/02/2023 ông khiếu nại lần 01 về việc không cho tách thửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đến ngày 28/02/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T chi nhánh huyện T ban hành Công văn trả lời khiếu nại hồ sơ yêu cầu tách thửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 20/VPĐKĐĐ-CNTB với nội dung không đồng ý yêu cầu tách thửa do không phù hợp kế hoạch sử dụng đất.
Ngày 17/3/2023 ông khiếu nại lần 02 về việc không cho tách thửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ông có đề cập đến việc đất ông nằm trong khu dân cư và yêu cầu tách thửa, đến ngày 31/3/2023 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T chi nhánh huyện T ban hành Công văn trả lời khiếu nại hồ sơ yêu cầu tách thửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 36/VPĐKĐĐ-CNTB với nội dung không đồng ý yêu cầu tách thửa và đỗ lỗi cho cán bộ áp khu vực - vị trí sai, tính thuế sai và trả lời là ngoài khu dân cư trong khi ông đã thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước theo thông báo thuế trong khu dân cư.
Nay ông yêu cầu: Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T thực hiện thủ tục tách thửa phần diện tích đất 1.008,6 m² theo giấy CNQSDĐ số CS09195 cấp ngày 02/02/2023 thuộc tờ bản đồ 35 thửa 293 (trong đó 100 m² là đất ONT, 908,6m² là đất CLN) tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thành 06 thửa, mỗi thửa có diện tích khoảng 168 m², trong đó có 04 thửa có 15 m² đất thổ cư và 02 thửa có 20 m² là đất ONT còn lại là đất CLN.
Chi cục thuế khu vực T1 cho rằng không có sự chênh lệch về thuế đối với trường hợp của ông là không đúng, bởi vì đơn giá của từng loại đất trong và ngoài khu dân cư là phải khác nhau nhưng do hợp đồng chuyển nhượng của ông để giá cao hơn (120.000.000 đồng) giá quy định của nhà nước (trong khu dân cư khoảng 88.6880.000 đồng; ngoài dân cư khoảng 70.516.000 đồng) nên là có chênh lệch về thuế, tuy nhiên ông không có yêu cầu hoàn trả lại tiền thuế, ông chỉ yêu cầu xử lý vấn đề tách thửa theo hồ sơ đã khởi kiện. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện ông Trần Đặng Đa L trình bày:
Ông Võ Đ yêu cầu đo đạc tách thửa đất số 293, tờ bản đồ 35, diện tích 1008,6m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 100m² đất trồng cây lâu năm 908,6m², toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thành 06 thửa mới để thực hiện chuyển nhượng.
Căn cứ khoản 1 Điều 143 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 quy định đất ở tại nông thôn như sau: “Đất ở do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng tại nông thôn gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.” Như vậy, thửa đất nêu trên khi tách thửa diện tích phải đảm bảo Điều 5 và Điều 6 của Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 7 năm 2020 của UBND tỉnh T, Quyết định ban hành Quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh.
Ngày 13/2/2023, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T có Thông báo số 191/TB-VPĐKĐĐ-CNTB về việc trả hồ sơ yêu cầu tách thửa chuyển nhượng của ông Đ. Thửa đất nêu trên của ông Đ "Quy hoạch sử dụng đất đến 2030 là: đất trồng cây lâu năm, không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở". Đối với yêu cầu của ông Đ về việc tách phần đất 1.008,6 m² thành 6 thửa như trên thì căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 10 Quyết định số: 28/2020/QĐ-UB ngày 27/7/2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh T thì không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa, bởi vì theo quy định thì diện tích tách thửa đất nông nghiệp tối thiểu là 1.000 m² nên không đồng ý yêu cầu của ông Đ.
Ngày 12/01/2023, Văn phòng Đ (VP ĐKĐĐ) tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh T đã viết phiếu chuyển thông tin số 45 thể hiện diện tích 1.008,6 m², ONT 100 m², CLN 908,6 m² và được Chi cục thuế khu vực T - T ra thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất và thông báo thu nhập cá nhân. Qua kiểm tra đối chiếu hồ sơ phát hiện việc ghi diện tích đất theo thông báo 45 có sai sót. Thực tế, diện tích 1.008,6 m², ONT 100 m², CLN 908,6 m² thửa 293 tờ 35 nằm ngoài khu dân cư, nên VP ĐKĐĐ tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh T có văn bản số: 38/VPĐKĐĐTB điều chỉnh lại khu vực, vị trí thửa đất thành khu vực 3 – Vị trí 2; ONT 100 m² đất nông nghiệp ngoài KDC; VT2 DT; CLN: 908,6 m² theo Phiếu chuyển thông tin số 429 ngày 31/3/2023 và chuyển thông tin sang Chi cục thuế khu vực T - T để xác định lại nghĩa vụ tài chính cho ông Đ.
Ngày 04/4/2023, Chi cục thuế khu vực T1 T ban hành Thông báo: LTB2370903-TK0001726/TB-CCT về việc nộp tiền lệ phí trước bạ nhà, đất và Thông báo: LTB2370903-TK0001727/TB-CCT về việc nộp tiền thuế thu nhập cá nhân chuyển nhượng bất động sản đối với trường hợp của ông Đ so với Thông báo ngày 31/3/2023 thì không có sự chênh lệch về thuế. Lý do: Giá trị trong hợp đồng chuyển nhượng cao hơn giá nhà nước quy định nên Chi cục thuế khu vực T - T áp giá theo giá hợp đồng mà ông Đ đã ghi. Ngoài ra, không còn trình bày gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Sở T trình bày:
1. Đối với nội dung tách thửa.
Ngày 06/02/2023, ông Võ Đ đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả huyện T nộp hồ sơ thực hiện thủ tục 36b thủ tục trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính thửa đất, Biên nhận số: 000.00.12.H53 – 230206-0677; hẹn trả kết quả ngày: 20/02/2023.
Ông Đ yêu cầu đo đạc tách thửa đất số 293, tờ bản đồ 35, diện tích 1.008,6m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 100,0m², đất trồng cây lâu năm 908,6m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ Quyết định số 3738/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ năm 2021 – 2030 huyện T và Quyết định số 203/QĐ-UBND ngày 03/02/2023 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2023 huyện T, thửa đất nêu trên thuộc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là trồng cây lâu năm.
Ông Đ yêu cầu tách thửa đất nêu trên thành 06 thửa mới để thực hiện chuyển nhượng.
Căn cứ khoản 1, Điều 143 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 quy định Đất ở tại nông thôn như sau:
“Đất ở do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng tại nông thôn gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.”
Tại thời điểm tách thửa, thửa đất nêu trên phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trồng cây lâu năm nên diện tích các thửa đất sau khi tách phải đảm bảo khoản 3, Điều 6 Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 của UBND tỉnh T Quyết định ban hành Quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Tây Ninh tách thửa đối với đất nông nghiệp quy định: “3. Tại các xã: Diện tích đất tối thiểu là 1.000,0m² (một ngàn mét vuông)”.
Do yêu cầu tách thửa của ông Đ các thửa đất sau khi tách không đảm bảo 1.000,0m² theo quy định nên Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T không thực hiện yêu cầu tách thửa của ông Đ là đúng theo quy định của pháp luật.
- Đối với thực hiện thủ tục xuất toán trả lại tiền chênh lệch.
Ngày 31/3/2023, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T đã có Công văn số 38/VPĐKĐĐTB về việc điều chỉnh việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai gửi đến Chi cục thuế khu vực T1 – T; và P chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 429/PCTTĐC.
Ngày 04/4/2023, Chi cục thuế khu vực T1 – T có Thông báo nộp tiền về thuế thu nhập cá nhân với cá nhân chuyển nhượng bất động sản, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản số LTB2370903-TK0001727/TB-CCT; và Thông báo nộp tiền về lệ phí trước bạ nhà, đất số LTB2370903-TK0001726/TB-CCT.
- Về quan điểm của Sở Tài nguyên và Môi trường
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh T trả hồ sơ yêu tách thửa của ông Đ với lý do: các thửa đất sau khi tách diện tích không đảm bảo 1.000,0m² là đúng với quy định pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ khoản 1 Điều 143 Luật đất đai; Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ; Điều 5, Điều 6 Quyết định số 28/2020/Qđ-UBND ngày 27/7/2020 (Điều 6 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND ngày 26/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh T); Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đ về việc yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T –chi nhánh huyện T tách thửa đất số 293, tờ bản đồ 35, diện tích 1.008,6m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 100,0m², đất trồng cây lâu năm 908,6m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thành 06 thửa, mỗi thửa có diện tích khoảng 168 m², trong đó có 04 thửa có 15 m² đất thổ cư và 02 thửa có 20 m² là đất ONT còn lại là đất CLN.
2. Đình chỉ yêu cầu buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – chi nhánh huyện T trả lại tiền thuế.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí hành chính sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 20/9/2023, ông Võ Đ có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều vắng mặt nên không thể hiện ý kiến. Người khởi kiện ông Võ Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán chủ toạ phiên toà, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Xét thấy Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng Hành chính bác toàn bộ kháng cáo của ông Võ Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Võ Đ làm trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm, nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đều vắng mặt. Người khởi kiện ông Võ Đ và người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, theo quy định tại khoản 4 Điều 225 Luật tố tụng Hành chính.
[3] Về quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện, thẩm quyền giải quyết:
Ngày 05/5/2023 ông Võ Đ nộp đơn khởi kiện yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T phải thực hiện thủ tục tách thửa cho ông. Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã xác định quan hệ tranh chấp là “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh và thụ lý, xét xử là có căn cứ, đúng quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 3 Điều 32, điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
[4] Xét kháng cáo của người khởi kiện ông Võ Đ:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Võ Đ có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T phải thực hiện công vụ theo quy định.
Hội động xét xử nhận thấy, theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng ông Đ yêu cầu Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T thực hiện thủ tục tách thửa phần diện tích đất 1.008,6 m² theo giấy CNQSDĐ số CS09195 cấp ngày 02/02/2023, thuộc tờ bản đồ 35, thửa 293 (trong đó 100 m² là đất ONT, 908,6m² là đất CLN), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Ông Đ yêu cầu tách diện tích đất trên thành 06 thửa, mỗi thửa có diện tích khoảng 168 m², trong đó có 04 thửa có 15 m² đất thổ cư và 02 thửa có 20 m² là đất ONT còn lại là đất CLN.
Xét thấy, căn cứ Quyết định số 3738/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ năm 2021 – 2030 huyện T và Quyết định số 203/QĐ-UBND ngày 03/02/2023 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2023 huyện T, thửa đất diện tích 1.008,6 m² theo giấy CNQSDĐ số CS09195 cấp ngày 02/02/2023, thuộc tờ bản đồ 35, thửa 293 (trong đó 100 m² là đất ONT, 908,6m² là đất CLN), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thuộc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là trồng cây lâu năm.
Căn cứ khoản 1, Điều 143 Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013 quy định “Đất ở do hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng tại nông thôn gồm đất để xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình phục vụ đời sống, vườn, ao trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư nông thôn, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.”.
Căn cứ khoản 3, Điều 6 Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND ngày 27/7/2020 của UBND tỉnh T (khoản 4, Điều 6 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND, ngày 26/4/2023 của UBND tỉnh T) quy định diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách đối với đất nông nghiệp là 1.000 m² (một ngàn mét vuông).
Vì vậy, ông Đ yêu cầu tách phần đất có diện tích 1.008,6m² (trong đó có 100m² đất ở nông thôn; 908,6m² đất trồng cây hàng năm khác) thành 6 thửa là không đủ diện tích đất ở nông thôn đất nông nghiệp theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Quyết định số 28/2020/QĐ-UBND của UBND tỉnh T (được thay thể bởi Điều 6 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND).
Do yêu cầu tách thửa của ông Đ các thửa đất sau khi tách không đảm bảo 1.000,0m² theo quy định nên Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh T không thực hiện yêu cầu tách thửa của ông Đ là đúng quy định pháp luật.
[5] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, nhận thấy, bản án sơ thẩm tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đ là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông Võ Đ kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án. Do đó, kháng cáo của ông Đ là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà.
[6] Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Võ Đ phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính năm 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Võ Đ.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ khoản 1 Điều 143 Luật đất đai; Điều 75 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Nghị định số 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ; Điều 5, Điều 6 Quyết định số 28/2020/Qđ-UBND ngày 27/7/2020 (Điều 6 Quyết định số 10/2023/QĐ-UBND ngày 26/4/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh T); Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1] Bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đ về việc yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T –chi nhánh huyện T tách thửa đất số 293, tờ bản đồ 35, diện tích 1.008,6m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 100,0m², đất trồng cây lâu năm 908,6m² toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thành 06 thửa, mỗi thửa có diện tích khoảng 168 m², trong đó có 04 thửa có 15 m² đất thổ cư và 02 thửa có 20 m² là đất ONT còn lại là đất CLN.
[2] Đình chỉ yêu cầu buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – chi nhánh huyện T trả lại tiền thuế.
[3] Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Võ Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 55 ngày 20/9/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông Đ đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Vương Minh Tâm |
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Đặng Văn Ý | Đỗ Đình Thanh | Vương Minh Tâm |
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân tối cao;
- - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- - TAND tỉnh Tây Ninh;
- - VKSND tỉnh Tây Ninh;
- - Cục THADS tỉnh Tây Ninh;
- - Đương sự;
- - Lưu, HQ.
Bản án số 774/2024/HC-PT ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 774/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Đang
