TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 772/2025/DS-PT Ngày: 13 - 11-2025 V/v tranh chấp về hợp đồng vay |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Ông Nguyễn Phú Thọ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Lưu Hồng Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Ông Bùi Văn Bình-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 428/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2025, được sửa chữa, bổ sung ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 526/2025/QĐ-PT ngày 27/10/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Anh Võ Hoàng Ngọc L, sinh năm 1976; địa chỉ: Số I, Khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh).
1.2. Chị Trần Thị Mỹ N, sinh năm 1978; địa chỉ: Số I, Khu phố D, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã N, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1968, địa chỉ: Số A, N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (nay là phường B B, tỉnh Lâm Đồng), là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 06/8/2024); có mặt.
2. Bị đơn: Anh Võ Minh H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A, tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là tổ A, khóm H, phường C, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: Tổ A, khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là khóm M, phường cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp); địa chỉ liên lạc: Số B T, phường C, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 21/10/2025); có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Nguyễn Thị Cẩm M, sinh năm 1983; địa chỉ: Số D, đường N, tổ H, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường C, tỉnh Đồng Tháp).
Người đại diện hợp pháp của chị M: Anh Triệu Trọng Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A, L, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường C, tỉnh Đồng Tháp), là người đại diện theo ủy quyền của chị M (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 08/4/2025); có mặt.
3.2. Chị Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Số A, đường P, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường C, tỉnh Đồng Tháp); địa chỉ liên lạc: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp); có đơn xin vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Anh Võ Minh H, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Võ Hoàng Ngọc L, Trần Thị Mỹ N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là anh Nguyễn Đình C trình bày:
Tháng 01/2022, anh L và chị N có cho anh H vay tiền nhiều lần để đáo hạn Ngân hàng, tổng cộng là 5.600.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 10/02/2022. Ngày 04/3/2022 hai bên kiểm tra đối chiếu lại, anh H có viết “Giấy mượn tiền”. Anh L và chị N đã nhiều lần yêu cầu anh H trả tiền vay nhưng đến nay vẫn chưa trả nên anh L và chị N khởi kiện yêu cầu anh H trả số tiền vốn 5.600.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả đến ngày khởi kiện là 02 năm, với mức lãi suất 9%/năm, thành tiền là 1.008.000.000 đồng, tổng cộng vốn vay và tiền lãi là 6.608.000.000 đồng. Tại phiên tòa, người đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày anh L và chị N chỉ yêu cầu anh H trả số tiền vốn 5.600.000.000 đồng, không yêu cầu tiền lãi.
Bị đơn Võ Minh H, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh T trình bày:
Anh H và anh L, chị N quen biết nhau qua việc làm ăn ngoài xã hội, anh H không có nhu cầu vay tiền nhưng anh L và chị N kêu anh H nhận tiền vay để đưa cho người khác có nhu cầu vay, anh H cho biết có chị Nguyễn Thị Cẩm M và Nguyễn Thị Cẩm T1 có nhu cầu vay tiền để đáo hạn ngân hàng nên anh H giới thiệu để anh L, chị N cho chị M và chị T1 vay tiền, cụ thể:
Ngày 25/01/2022, anh L và chị N đồng ý cho chị T1 vay 2.000.000.000 đồng nên chị N chuyển vào tài khoản của anh H 2.000.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền từ tài khoản thì anh H đã chuyển cho chị T1, việc vay không thỏa thuận thời hạn, lãi suất thỏa thuận 0,7%/tháng. Sau khi vay thì chị T1 đã trả cho anh L số tiền vốn 200.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản, chưa trả tiền lãi.
Ngày 14/01/2022, anh L và chị N đồng ý cho chị M vay 2.500.000.000 đồng nên chị N chuyển vào tài khoản của anh H 2.500.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền từ tài khoản thì anh H đã chuyển cho chị M, việc vay không thỏa thuận thời hạn, lãi suất thỏa thuận 0,7%/tháng. Ngày 17/01/2022, anh L, chị N tiếp tục cho chị M vay 700.000.000 đồng nên chị N chuyển vào tài khoản của anh H 700.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền từ tài khoản thì anh H đã chuyển cho chị M, việc vay không thỏa thuận thời hạn, lãi suất thỏa thuận 0,7%/tháng. Ngày 17/01/2022, ngày 20/01/2022, anh L và chị N tiếp tục cho chị M vay 700.000.000 đồng nên chị N chuyển vào tài khoản của anh H 700.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền từ tài khoản thì anh H đã chuyển cho chị M, việc vay không thỏa thuận thời hạn, lãi suất thỏa thuận 0,7%/tháng. Ngày 24/01/2022, anh L, chị N tiếp tục cho chị M vay 800.000.000 đồng nên chị N chuyển vào tài khoản của anh H 800.000.000 đồng, sau khi nhận được tiền từ tài khoản thì anh H đã chuyển cho chị M, việc vay không thỏa thuận thời hạn, lãi suất thỏa thuận 7%/tháng. Tổng cộng chị M nhận tiền vay của anh H là 4.700.000.000 đồng, sau đó chị M đã trả được tiền vốn 1.000.000.000 đồng, còn lại 3.700.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của anh H trình bày do anh H nhận tiền từ tài khoản của chị N chuyển cho anh H nên anh H đồng ý trả cho anh L và chị N số tiền vốn 5.600.000.000 đồng. Đồng thời yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc chị T1 trả cho anh H số tiền vốn 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng, yêu cầu chị M trả cho anh H số tiền vốn 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Cẩm M, người đại diện theo ủy quyền của chị M trình bày:
Chị M không thống nhất với lời trình bày của anh H, chị M không có vay tiền của anh L, chị N nên chị M không có trách nhiệm trả tiền cho anh L, chị N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Cẩm T1 trình bày:
Năm 2022, chị T1 có vay của anh H số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất 0,45%/ngày, tương đương 13,5%/tháng, số tiền này chị T1 vay dùm chị M, sau khi nhận tiền từ anh H, chị T1 giao lại cho chị M. Ngày 27/01/2022, chị T1 đã trả tiền lãi cho anh H 27.000.000 đồng, ngày 15/02/2022 chị T1 đã trả cho anh H tiền vốn 80.000.000 đồng. Trong tháng 02/2022, chị T1 đã trả tiếp cho anh H 200.000.000 đồng tiền vốn; ngày 29/9/2022, chị T1 trả tiếp cho anh H 50.000.000 đồng tiền vốn; ngày 29/10/2022 chị T1 trả tiếp cho anh H 50.000.000 đồng tiền vốn; ngày 30/11/2022 chị T1 trả tiếp cho anh H 50.000.000 đồng tiền vốn; ngày 30/12/2022 chị T1 trả tiếp cho anh H 50.000.000 đồng tiền vốn. Hiện chị T1 còn nợ anh H tiền vốn 1.520.000.000 đồng. Trường hợp anh H khởi kiện chị T1 trong vụ án này, thì yêu cầu Tòa án điều chỉnh tiền lãi theo quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 20/5/2025, được sửa chữa, bổ sung ngày 20/6/2025, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp) đã quyết định:
Căn cứ vào các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Chấp nhận yêu cầu của anh Võ Hoàng Ngọc L, chị Trần Thị Mỹ N (anh Nguyễn Đình C đại diện) yêu cầu anh Võ Minh H trả số tiền vốn 5.600.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Buộc anh Võ Minh H phải trả cho anh Võ Hoàng Ngọc L, chị Trần Thị Mỹ N số tiền vốn 5.600.000.000 đồng (Năm tỷ sáu trăm triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, về án phí, về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 02/6/2025, bị đơn Võ Minh H có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu buộc chị Nguyễn Thị Cẩm T1 trả cho anh H số tiền vay 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng và buộc chị Nguyễn Thị Cẩm M trả cho anh H số tiền vay 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng để anh H trả cho anh L và chị N.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Võ Hoàng Ngọc L, Trần Thị Mỹ N trình bày nguyên đơn không rút đơn khởi kiện. Nguyên đơn không có giao dịch dân sự với chị M và chị T1, tại Tòa án cấp sơ thẩm bị đơn đã không chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục phản tố nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Võ Minh H.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Võ Minh H trình bày bị đơn không rút đơn kháng cáo. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết số nợ mà chị T1, chị M nợ anh H trong vụ án này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh H. Lý do tài liệu, chứng cứ có liên quan với nhau nên việc giải quyết trong cùng vụ án mới được toàn diện, việc tách ra để thụ lý, giải quyết thành vụ án khác mất nhiều thời gian hơn nên đề nghị xem xét kháng cáo của anh H.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị Cẩm M trình bày từ ngày xét xử sơ thẩm đến nay đã 06 - 07 tháng, nếu anh H không kháng cáo mà khởi kiện thì vụ án đã được giải quyết xong. Đối với yêu cầu kháng cáo của anh H thì chị M không đồng ý.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự và người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Đơn kháng cáo của anh Võ Minh H nộp trong thời hạn và đúng thủ tục nên hợp lệ.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Võ Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 20/5/2025, được sửa chữa, bổ sung ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của anh Võ Minh H nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
[2] Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, chị Nguyễn Thị Cẩm T1 có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị T1 theo quy định pháp luật.
[3] Xét đơn kháng cáo của anh Võ Minh H yêu cầu buộc chị Nguyễn Thị Cẩm T1 trả cho anh H số tiền vay 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng và buộc chị Nguyễn Thị Cẩm M trả cho anh H số tiền vay 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng để anh H trả cho anh L và chị N. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[3.1] Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn Võ Hoàng Ngọc L, Trần Thị Mỹ N và bị đơn Võ Minh H là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh H có đơn yêu cầu đưa chị Nguyễn Thị Cẩm M và chị Nguyễn Thị Cẩm T1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để có ý kiến về số tiền vay 5.600.000.000 đồng theo giấy mượn tiền ngày 04/3/2022 anh H không có mượn của anh L, chị N và buộc chị M trả cho anh L, chị N số tiền vay 3.700.000.000 đồng, buộc chị T1 phải trả cho anh L, chị N số tiền vay 1.900.000.000 đồng (bút lục số 26, 27). Chị M trình bày chị M không có vay tiền của anh L, chị N nên chị M không có trách nhiệm trả tiền cho anh L, chị N. Chị T1 cho rằng năm 2022 có vay tiền của anh H, có trả tiền cho anh H nhiều lần, hiện chị T1 còn nợ anh H số tiền vay 1.520.000.000 đồng.
[3.2] Do các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên ngày 10/4/2025 Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đưa vụ án ra xét xử và đã mở phiên tòa vào các ngày 29/4/2025, ngày 13, 14, 20/5/2025. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H đồng ý hoàn trả vốn vay theo yêu cầu của anh L và chị N; anh H yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc chị T1 trả cho anh H số tiền vốn 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng, yêu cầu chị M trả cho anh H số tiền vốn 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng. Xét thấy trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị đơn Võ Minh H không có đơn yêu cầu chị T1, chị M hoàn trả vốn vay và tiền lãi như nêu trên. Ngày 10/4/2025, Tòa án cấp sơ thẩm đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì đến ngày 16/4/2025 Tòa án nhận được “Đơn yêu cầu độc lập”, đề ngày 15/4/2025 của bị đơn Võ Minh H với nội dung yêu cầu chị T1 trả số tiền vốn 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng; yêu cầu chị M trả tiền vốn 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng; yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi thi hành xong số tiền vay; tại phiên tòa sơ thẩm anh H vẫn giữ yêu cầu chị T1, chị M hoàn trả số tiền vay, tiền lãi như nêu trên.
Tại khoản 1, 3 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự quy định:
“1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải”.
Căn cứ vào quy định nêu trên, sau khi Tòa án đã kết thúc phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì bị đơn không có quyền đưa ra yêu cầu phản tố để Tòa án xem xét giải quyết. Trong vụ án này, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm có Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì anh H mới gửi đơn yêu cầu chị T1 và chị M trả tiền nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa anh H với chị T1, chị M trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh L, chị N và anh H, mà sẽ được xem xét, giải quyết thành vụ án khác khi anh H có yêu cầu là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới so với quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H về việc yêu cầu buộc chị T1 trả cho anh H số tiền vay 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng và buộc chị M trả cho anh H số tiền vay 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng để anh H trả cho anh L và chị N.
[4] Về án phí phúc thẩm: Anh Võ Minh H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Võ Minh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Võ Minh H về việc yêu cầu buộc chị Nguyễn Thị Cẩm T1 trả cho anh H số tiền vay 1.900.000.000 đồng và tiền lãi 603.960.000 đồng và buộc chị Nguyễn Thị Cẩm M trả cho anh H số tiền vay 3.700.000.000 đồng và tiền lãi 1.166.980.000 đồng để anh H trả cho anh L và chị N.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 66/2025/DS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2025, được sửa chữa, bổ sung ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 6 - Đồng Tháp) về các nội dung có liên quan đến yêu cầu kháng cáo.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm: Anh Võ Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003760 ngày 06/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 - Đồng Tháp).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nơi nhận:
| Nguyễn Thị Thúy Hằng |
Bản án số 772/2025/DS-PT ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 772/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
