TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 772/2024/HC-PT
Ngày: 24 - 7 - 2024
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính
về lĩnh vực quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, công khai xét xử trực tuyến phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 281/2024/TLPT-HC ngày 15 tháng 3 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 20/2023/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2172/2024/QĐPT, ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trần Văn L, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số I ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn L: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1979 (Tại giấy ủy quyền ngày 16/12/2022). Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
- Người bị kiện:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Công T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Công T1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn B, sinh năm: 1966. Vắng mặt.
Bà Lê Thị U, sinh năm: 1969. Vắng mặt.
Địa chỉ: Số D M, phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà U: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1964 (Tại Hợp đồng ủy quyền ngày 01/7/2023). Địa chỉ: Số B ấp H, xã V, huyện C, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Bùi Thị P, sinh năm: 1955. Địa chỉ: Số A ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Bùi Thị Đ, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số I ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Bùi Thị H, sinh năm: 1966. Địa chỉ: Số I ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Bùi Thị M, sinh năm: 1962. Địa chỉ: Số H ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Bùi Thị Á, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Số D ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Trần Thị H1, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Số G ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Trần Thị P1, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Số G ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Bà Trần Thị N1, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Số H ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Ông Trần Văn V, sinh năm: 1969. Địa chỉ: Số D ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Có mặt.
Ông Trần Văn T2, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Số D ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1961. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông S: Bà Mã Ngọc H2, sinh năm: 1959 là người đại diện theo ủy quyền (Tại Giấy ủy quyền ngày 27/5/2023). Có mặt.
Cùng địa chỉ: Số B đường H, phường H, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Do có kháng cáo của người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03/01/2023 của người khởi kiện ông Trần Văn L và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông L là ông Huỳnh Minh T trình bày như sau:
Trước đây ông có làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre để yêu cầu xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nước cấp cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U tại thửa đất số 198, tờ bản đồ số 05 diện tích 903,8 m² tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre vào năm 2022. Sau nhiều lần gửi thư nhắc nhở cũng như trực tiếp đến cơ quan yêu cầu trả lời, đến ngày 22/8/2022 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T trả lời ông bằng Công văn số: 2964/UBND-NC có nội dung cho rằng việc cấp quyền sử dụng đất cho ông B, bà U tại thửa đất số 198, tờ bản đồ số 05 nói trên là đúng pháp luật, không có cơ sở xem xét giải quyết đơn của ông. Sau khi nhận được Công văn số: 2964 nói trên, qua nghiên cứu ông không đồng ý với nội dung trả lời của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre với các lý do như sau:
Thửa đất nói trên có nguồn gốc của bà nội ông là Hà Thị B1, sinh năm 1906 (chết năm 1992) tạo lập và để lại không có di chúc, bà B1 lúc sinh thời có sinh được 03 người con là:
Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1924 (chết năm 1972), ông Q có các con là: Bùi Thị P, Bùi Thị Đ, Bùi Thị H, Bùi Thị M, Bùi Thị Á.
Ông Trần Văn T3, sinh năm 1930 (chết năm 1973), ông T3 có các con là: Trần Văn C, Trần Thị H1, Trần Thị P2, Trần Thị N1, Trần Văn B, Trần Văn V, Trần Văn L, Trần Văn T2.
Bà Trần Thị T4, sinh năm 1937 (chết năm 2006), bà T4 có 01 người con là ông Nguyễn Văn S.
Như vậy ông Trần Văn B là cháu nội bà B1 cùng hàng thừa kế với rất nhiều người nói trên nhưng khi ông B làm thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất mà không có sự đồng ý của những người cùng hàng thừa kế với ông B. Ông xin phân tích những lý do Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn B và bả Lê Thị U (vợ ông B) sai pháp luật như sau:
Thứ nhất: Quy trình (hồ sơ) cấp quyền sử dụng đất của ông B, bà U của hai lần trước sau ông bà này khai mâu thuẫn, bất nhất. Cụ thể: Lần đầu tiên cấp năm 2008 ông bà này khai “nhận thừa kế năm 1986”, còn lần cấp gần đây nhất vào năm 2022 thì ông bà này khai rằng: “Nhận chuyển nhượng 400 m² + nhận chuyển đổi 300 m² + ông bà để lại 203,8 m²”. Như vậy, cùng một thửa đất mà tại sao về nguồn gốc ông bà này lại khai hai lần khác xa nhau như vậy. Hơn nữa hồ sơ cấp quyền sử dụng đất vào năm 2022 không có giấy tờ gì thể hiện ông B, bà U nhận chuyển nhượng 400 m² + nhận chuyển đổi 300 m² + ông bà để lại 203,8 m². Vậy thì tại sao có cở sở pháp lý để cấp quyền sử dụng đất cho ông B, bà U.
Thứ hai: Tại Thông báo số: 261/TB –STNMT ngày 25/01/2021; Quyết định số 352/QĐ-STNMT ngày 29/3/2021 và Quyết định số 454/QĐ-STNMT ngày 04/5/2021 của Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B có nêu rõ lý do thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông B, bà U là do: “Giấy chứng nhận đã cấp nêu trên không đúng nguồn gốc sử dụng đất”. Như vậy, nếu như nguồn gốc của người sử dụng được cấp là ông B, bà U không dùng trước đây (trước năm 2022) thì mãi mãi về sau ông B, bà U cũng không phải là chủ sử dụng nên nhà nước có cấp lại cho ông bà lần này (năm 2022) thì cũng không đúng.
Thứ ba: Về quá trình sử dụng đất ông B, bà U không có canh tác sử dụng thửa 198, tờ bản đồ số 05 nói trên ngày nào mà do ông trực tiếp canh tác hơn 30 năm nay thì không có căn cứ để Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho ông B, bà U. Như vậy, hồ sơ cấp quyền sử dụng đất này không có thẩm tra, xác minh rõ ràng, chính xác ngay từ ban đầu dẫn đến cấp đất không đúng đối tượng.
Thứ tư: Thửa đất nói trên có nguồn gốc của bà nội ông là Hà Thị B1, sinh năm 1906 (chết năm 1992), như vậy vào năm 1986 lúc này bà B1 còn sống thì ông B nói thừa kế là từ ai, giấy tờ gì thể hiện ông thừa kế. Nếu ông B khai gian thì có được xem là căn cứ hợp pháp để cấp đất hay không.
Thứ năm: Một sự vô lý mà ai nhìn vô cũng biết là nếu như ông B, bà U “Nhận chuyển nhượng 400 m² + nhận chuyển đổi 300 m² + ông bà để lại 203,8 m²” thì làm sao ông bà này ráp 03 thửa đất khác nhau thành một thửa 198 liền lạc được. Bởi 03 phần đất khác nhau muốn nhập lại thành một thửa thì trước tiên 03 thửa đất đó phải liền kề nhau, mỗi thửa phải có hình học mà sau khi ráp lại thành hình thể của thửa 198, tờ bản đồ số 05 như hiện tại khớp nhau từng cạnh không dư cũng không thiếu cạnh nào. Ngoài ra hồ sơ của 03 thửa đất trước đó phải phù hợp và hợp pháp, nhưng trên thực tế thì ông B, bà U không có được những thứ này.
Thứ sáu: Ông B là anh ruột của ông, nhưng ông B không có trực tiếp ở trên đất này mà vợ chồng ông B đi Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống gần 30 năm nay. Đất này do ông ở chung với bà nội ông (bà B1) từ khi ông còn nhỏ, sau khi bà nội chết ông canh tác tiếp tục trực tiếp cho đến nay, sau này ông B, bà U về chiếm vô cớ và có xảy ra nhiều việc tranh chấp, gây mất trật tự địa phương.
Từ những lý do như nêu trên, ông cho rằng việc Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn B và bà Lê Thị U tại thửa đất số 198, tờ bản đồ số 05 diện tích 903,8 m² tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre là hoàn toàn sai pháp luật. Do đó, Công văn số: 2964/UBND-NC ngày 22/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre trả lời cho ông cũng sai pháp luật theo. Do đó, ông yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 198, tờ bản đồ số 05 diện tích 903,8 m² tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Trần Văn B và bà Lê Thị U vào ngày 25/01/2022. Hủy Công văn số: 2964/UBND-NC ngày 22/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre.
Tại Công văn số: 2591/UBND-NC ngày 25 tháng 8 năm 2023, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T trả lời như sau:
Ủy ban nhân dân huyện T không đồng ý hủy Công văn số: 2964/UBND-NC ngày 22/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre và việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 198, tờ bản đồ số 05 diện tích 903,8 m² tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre cấp cho ông Trần Văn B và bà Lê Thị U vào ngày 25/01/2022. Lý do: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5, diện tích 903,8 m² cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U là đảm bảo quy định của pháp luật về đất đai.
Tại Công văn số: 2553/STNMT-VPĐK ngày 14/6/2023, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B trình bày như sau:
Sở T ban hành Quyết định số 352/QĐ-STNMT ngày 29 tháng 3 năm 2021 về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U, thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5 tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, có số phát hành CU 558618, số vào sổ cấp GCN: CS09243, ngày 13 tháng 02 năm 2020 dựa trên cơ sở:
Về quy định: Căn cứ khoản 4 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và khoản 56 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.
Về giấy tờ hợp pháp: Báo cáo số 2719/BC-UBND ngày 06 tháng 10 năm 2020 của Ủy ban nhân dân huyện T về kết quả thẩm tra, xác minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U, cùng ngụ tại ấp X, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Thông báo số 261/TB-CTNMT ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B về việc giao nộp Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U tại thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Biên bản ngày 05 tháng 02 năm 2021 của Ủy ban nhân dân xã T về việc trao thông báo thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tờ trình số 515/TTr-VPĐK ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Văn phòng Đ2 về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U.
Sở T ban hành Quyết định số 454/QĐ-STNMT ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U, thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5 tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, có số phát hành CU 558618, số vào sổ cấp GCN CS09243, ngày 13 tháng 02 năm 2020 dựa trên cơ sở:
Về quy định: Căn cứ khoản 7 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Về giấy tờ hợp pháp: Biên bản ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Ủy ban nhân dân xã T về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tờ trình số 725/TTr-VPĐK ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Văn phòng Đăng ký đất đai về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U.
Việc Sở T ban hành Quyết định số 352/QĐ-STNMT ngày 29 tháng 3 năm 2021 về việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U và Quyết định số 454/QĐ- STNMT ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc hủy Giấy chứng nhận đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5 tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre là đúng theo quy định.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 14/7/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn B, bà Lê Thị U và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông B, bà U là ông Nguyễn Văn N trình bày như sau:
Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của bà nội ông B tên Hà Thị B1, sinh năm 1906 chết năm 1992. Bà nội có 03 người con ruột tên là: Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1924 chết năm 1972; ông Trần Văn T3, sinh năm 1930 chết năm 1973; bà Trần Thị T4, sinh năm 1937 chết năm 2006. Ông Trần Văn B và ông Trần Văn L là con ruột của ông Trần Văn T3.
Từ lúc ông Trần Văn B sinh ra được 4-5 tuổi thì về ở với bà nội tên Hà Thị B1, trên thửa đất này có căn nhà bà B1 (nay ông Trần Văn L ở) cho đến khi trưởng thành. Vào năm 1986 ông B được gia đình có hướng hỏi vợ cho ông để có gia đình riêng làm ăn sinh sống cho tương lai sau này, lúc bấy giờ bà B1 đã kêu ông B ra chỉ cho một phần đất có diện tích khoảng hơn 200 m² nằm liền kề với nhà bà B1 (Việc cho đất tại thời điểm này là chỉ nói miệng mà thôi). Đến năm 1987 ông B lập gia đình cùng bà Lê Thị U và cất nhà tạm ở sát cạnh phần đất của bác H3 tên Bùi Văn Q, vì ông Q chết năm 1972 nên phần đất này được bà nội cho bà Võ Thị T5 sinh năm 1929 chết năm 2019 (Vợ ông Q) quản lý sử dụng lúc bấy giờ. Và tại thời điểm năm 1986 ông B mua luôn phần đất của bà Võ Thị T5 với giá là 19 giạ lúa và bà T5 đã tháo dở di dời căn nhà cấp 4 trên đất đã bán cho ông B về sống tại sau bờ kinh xã T, huyện T. Diện tích mà bà Võ Thị T5 chuyển nhượng cho ông B là khoảng 400 m² đất nông nghiệp. Đến năm 1990 ông Trần Văn L và vợ chồng ông B có thỏa thuận với nhau là ông B đưa 500 m² đất ruộng phía sau sát kênh cho ông Trần Văn L. Ông L sẽ cắt một phần đất khoảng 300 m² đất cây lâu năm phía trước sát lộ giới ngày nay cho ông B, bà U. Việc giao dịch này đã được hai bên tiến hành hoán đổi đất cho nhau vào những năm 1990 có sự đồng ý của bà Hà Thị B1. Cho nên vợ chồng ông B, bà U quản lý 03 phần đất nêu trên tổng cộng hơn 900 m². Ông B, bà U quản lý, sử dụng, canh tác diện tích đất nói trên liên tục đến năm 2004 tại địa phương đã tiến hành kê khai đăng ký đất đai và ông B, bà U được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 08/9/2008 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp lần đầu, đất thuộc thửa số 198, tờ bản đồ số 5, diện tích 904,0 m² đất trồng cây hàng năm khác.
Sau này ông Trần Văn L có tranh chấp quyền sử dụng đất với ông B, bà U về ranh đất nhiều lần tại địa phương. Lúc này, ông B và bà U đã được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số: CU58618, số vào sổ cấp GCN: CS09243 do Sở T cấp ngày 13/02/2020. Tại thời điểm cấp đổi giấy chứng nhận này ông Trần Văn L lại tiếp tục tranh chấp về việc đăng ký đất đai của nên đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ra quyết định số: 454/QĐ-STNMT, ngày 04/5/2021 về việc: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho hộ ông Trần Văn B và bà Lê Thị U đối với GCN QSDĐ mới số: CU58618, số vào sổ cấp GCN: CS09243 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 13/02/2020.
Đến ngày 20/12/2021, ông B liên hệ Ủy ban nhân dân xã T, huyện T và Ủy ban nhân dân huyện T cùng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ2 đề lập thủ tục, hồ sơ xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5, diện tích 903,8 m² đất cây lâu năm. Ông B, bà U được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DC527856, số vào sổ cấp GCN: CH10067 của thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5, diện tích 903,8 m² đất cây lâu năm nói trên vào ngày 25/01/2022 do ông Trần Văn B và bà Lê Thị U đứng tên.
Như vậy xét về quá trình quản lý đăng ký sử dụng đất từ năm 1986 đến trước ngày 15/10/1993 thì việc quản lý sử dụng đất của vợ chồng ông B, bà U là hoàn toàn hợp pháp, dù rằng thời gian qua ông Trần Văn L có tranh chấp nhưng chính quyền địa phương cấp cơ sở cũng như Ủy ban nhân dân huyện, và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ2, tỉnh Bến Tre đã giải quyết xong, đồng thống nhất xác nhận là đất do ông B, bà U quản lý, sử dụng đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Nay ông Trần Văn L lại tiếp tục “Khiếu kiện quyết định hành chính” giữa người khởi kiện ông Trần Văn L với người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T và Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre. Với tư cách là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông B và bà U không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L theo nội dung đơn khởi kiện ngày 03/01/2023.
Đề nghị Tòa án căn cứ điểm a, Khoản 2, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật hoặc buộc thôi việc ...”. Như vậy thời hiệu khởi kiện của ông Trần Văn L về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: DC527856, số vào sổ cấp GCN: CH10067 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Trần Văn B và bà Lê Thị U đối với phần diện tích 903,8 m² đất cây lâu năm thuộc thửa đất số 198, tờ bản đồ số 5, tọa lạc ấp X, xã T, huyện T, tỉnh bến Tre nay đã hết (Được tính từ ngày 08/9/2008 đến ngày 25/01/2022). Diện tích đất mà ông B, bà U quản lý, sử dụng không có thay đổi hiện trạng và vị trí đất đến nay ổn định.
Tại bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị P1, bà Trần Thị H1, ông Trần Văn V, bà Bùi Thị Á, bà Bùi Thị M, bà Bùi Thị P, bà Bùi Thị H, bà Bùi Thị Đ, bà Trần Thị N1 và người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn S là bà Mã Ngọc H2 trình bày:
Các ông bà đồng ý với ý kiến của ông Trần Văn L. Các ông bà là cháu của bà Hà Thị B1, đất bà B1 để lại di chúc, từ nhỏ ông L sống chung với bà B1, bà B1 có nói sau này bà chết để lại đất này cho ông L hưởng thờ cúng bà. Việc ông Trần Văn B và bà Lê Thị U đăng ký kê khai làm thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất thửa 198, tờ bản đồ số 5 diện tích 903,8 m² tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre là hoàn toàn sai pháp luật. Bởi ông bà này không được bà B1 cho đất hay di chúc gì. Thủ tục xin cấp quyền sử dụng đất của ông B, bà U là hoàn toàn sai pháp luật. Nhà nước cấp mà hàng thừa kế không ai đồng ý, trình tự thủ tục cấp sai pháp luật căn bản. Các ông bà đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L.
Do các ông bà bận công việc gia đình nên không thể tham gia tố tụng vụ án. Các ông bà xin được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
Tại Bản án sơ thẩm số 20/2023/HC-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính.
Áp dụng Luật Đất đai 2013; Luật Khiếu nại 2011, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L, cụ thể:
Hủy Công văn số: 2964/UBND-NC “Về việc trả lời đơn yêu cầu của công dân” ngày 22/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre.
Không chấp nhận yêu cầu về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U vào ngày 25/01/2022 tại thửa đất 198, tờ bản đồ 05, diện tích 903,8 m², tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có họa đồ kèm theo)
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 14/9/2023, người khởi kiện – ông Trần Văn L có đơn kháng cáo một phần nội dung bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo – ông Trần Văn L có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo tại đơn kháng cáo của ông L, giữ nguyên tất cả lời trình bày từ trước đến nay như ở giai đoạn sơ thẩm và trong nội dung đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Người bị kiện – Chủ tịch UBND huyện P, UBND huyện P, tỉnh Bến Tre có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Văn L làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để tuyên bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có cơ sở. Tại cấp phúc thẩm phía người khởi kiện không đưa ra tình tiết và chứng cứ nào mới có căn cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Trần Văn L làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
[1.2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[2] Xét kháng cáo của ông Trần Văn L yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10067 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U vào ngày 25/01/2022 đối với thửa đất 198, tờ bản đồ 05, diện tích 903,8m², tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
[2.1] Về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSD đất:
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013, việc Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10067 cấp ngày 25/01/2022 cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U là đúng thẩm quyền.
[2.2] Về nội dung
Ông L trình bày phần đất thuộc thửa 198, tờ bản đồ 5, tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre diện tích 903,8m² có nguồn gốc của bà nội ông L là cụ Hà Thị B1. Cụ B1 chết năm 1992, không để lại di chúc, ông B là anh ruột của ông L kê khai thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng.
Xét thấy: Theo hồ sơ giấy chứng nhận quyền sử dụng cấp cho ông B vào năm 2008 thì ông Bảo kê k đăng ký năm 2004 thửa 198, diện tích 904 m² đất HNK có nguồn gốc thừa kế năm 1986. Theo nội dung các biên bản xác minh nguồn gốc đất đối với ông Bùi Văn Q1, ông Bùi Văn Đ1 và ông Trần Văn D đều xác nhận phần đất thửa 198 của ông B, bà U có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị T5 (trước năm 1990) khoảng 700 m² và ông B trao đổi 300 m² đất với ông L (BL124-126). Phù hợp với ý kiến trình bày của ông L tại Biên bản hòa giải cơ sở ngày 19/3/2020: “Phần đất mà ông B sử dụng hiện nay có nguồn gốc đất trước đây là ông Bảo đổi với tôi (có chiều ngang là 10m, chiều dài là 30m) tổng diện tích là 300 m². Tôi lấy 500 m² lúa phía sau đất của ông B.” Ông Bảo kê k đăng ký thửa 198 nguồn gốc thừa kế năm 1986 là không đúng thực tế nguồn gốc sử dụng đất. Tuy nhiên, cũng không có căn cứ cho rằng nguồn gốc đất là di sản của cụ B1 mà nguồn gốc đất do ông B, bà U nhận chuyển nhượng và trao đổi đất. Ông B, bà U quản lý sử dụng đất từ năm 1987 và đăng ký kê khai cấp quyền sử dụng đất năm 2008 đến năm 2020 ông L mới có tranh chấp về việc không thống nhất ranh đất, bà H là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ B1 không có tranh chấp. Do ông Bảo kê k không đúng nguồn gốc đất nên sau khi phát hiện việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B vào năm 2020 là không đúng về nguồn gốc sử dụng đất, Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B đã thực hiện thủ tục thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp đổi cho ông B, bà U vào năm 2020, phù hợp quy định của pháp luật đất đai. Theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và kết quả thẩm định tại chỗ ngày 14/7/2023 thể hiện trên thửa đất số 198 có nhà, công trình kiến trúc (hàng rào tường lửng trên lưới B40) và cây trồng của gia đình ông B. Do đó, việc ông B, bà U đã thực hiện thủ tục kê khai đăng ký lại nguồn gốc sử dụng đất và được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2022 là phù hợp. Ông L khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp cho ông B, bà U do cấp không đúng đối tượng là không có cơ sở chấp nhận.
[2.3] Từ các nhận định nêu trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U vào ngày 25/01/2022 đối với thửa đất 198, tờ bản đồ 05, diện tích 903,8m², tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.
[2.4] Ông Trần Văn L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Nhưng trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm ông L không xuất trình được chứng cứ nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông L; Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm đề nghị bác kháng cáo của người khởi kiện là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm số 20/2023/HC-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm:
Do yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L không được chấp nhận nên ông L phải chịu án phí hành chính phúc thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 20/2023/HC-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn L, cụ thể:
Hủy Công văn số: 2964/UBND-NC “Về việc trả lời đơn yêu cầu của công dân” ngày 22/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bến Tre.
Không chấp nhận yêu cầu về hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH10067 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Trần Văn B, bà Lê Thị U vào ngày 25/01/2022 tại thửa đất 198, tờ bản đồ 05, diện tích 903,8 m², tọa lạc xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có họa đồ kèm theo)
Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Trần Văn L phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Được cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm mà ông Trần Văn L đã nộp theo Biên lai đóng tạm ứng án phí số 0007622 ngày 14/9/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre. Ông Trần Văn L đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lê Thúy C1 - N | Vũ Đức T6 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Đức Toàn
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân Tối cao
- VKSND cấp cao tại TP.HCM
- Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre
- VKSND tỉnh Bến Tre;
- Cục THADS tỉnh Bến Tre;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP, ĐTM
Bản án số 772/2024/HC-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 772/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn L. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 20/2023/HC-ST ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre
