|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 772/2023/HC-PT Ngày 30 – 8 – 2023 V/v khiếu kiện quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định giao đất, quyết định bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất, quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai; buộc trả lại đất hoặc bồi thường bằng đất ở, giá đất ở. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thanh
Các thẩm phán: Ông Vương Minh Tâm
Ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân
dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kim Đoạn – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ
lý số: 201/2023/TLPT-HC ngày 23 tháng 3 năm 2023 về khiếu kiện quyết định
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế thực hiện biện pháp
khắc phục hậu quả, quyết định giao đất, quyết định bồi thường thiệt hại khi thu hồi
đất, quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai; buộc trả lại đất hoặc bồi thường
bằng đất ở, giá đất ở.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2023/HC-ST ngày 20 tháng 02
năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1921/2023/QĐ-PT
ngày 31 tháng 7 năm 2023; giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Phan Thị L, sinh năm 1938; (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị L (theo Hợp đồng ủy
quyền ngày 06/02/2023): Ông Phan Thanh T, sinh năm 1958; cùng địa chỉ: Số
27A Đường 21/8, Khu phố 2, phường PH, thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận,
(có mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:
- + Ông Phan Đức L1 – Luật sư làm việc tại Công ty Luật TNHH MTV
- KM, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt);
- + Bà Lê Thị V – Luật sư làm việc tại Công ty Luật TNHH MTV KM,
- thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Ninh Thuận;
- Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận;
Người đại diện theo ủy quyền của UBND tỉnh Ninh Thuận và Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận (theo Giấy ủy quyền ngày 26/8/2022): Ông Nguyễn
Long B – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, (xin vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh Ninh Thuận và
Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận: Ông Hồ Xuân H – Trưởng Phòng quản lý đất
đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Thuận, (có mặt).
- Chủ tịch UBND thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận;
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thành phố PRTC
(theo Giấy ủy quyền ngày 05/4/2023): Ông Lê Hoài N – Phó Chủ tịch UBND
thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận, (xin vắng mặt);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND thành phố
PRTC: Ông Trần Thanh C – Đội trưởng Đội quản lý trật tự đô thị thành phố
PRTC, tỉnh Ninh Thuận, (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chủ tịch UBND phường PH,
thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND phường PH (theo
Giấy ủy quyền ngày 31/01/2023): Ông Nguyễn Vĩnh Ng – Phó Chủ tịch UBND
phường PH, (xin vắng mặt);
- Người kháng cáo: Người khởi kiện bà Phan Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Người khởi kiện bà Phan Thị L và người đại diện theo ủy quyền của bà
L là ông Phan Thanh T trình bày:
Trong quá trình chung sống, cha mẹ bà Phan Thị L là cụ Phan Bá Th
(Th) (sinh năm 1899, chết năm 1964) và cụ Phan Thị Q (sinh năm 1903, chết
năm 1993) đã nhận chuyển nhượng diện tích khoảng 7.000m² đất tại ấp HT, làng
KD từ vợ chồng ông Phạm Văn O và bà Lê Thị X, nay là diện tích đất gia đình
bà L, Nhà Văn hóa Thiếu nhi và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh
Ninh Thuận đang sử dụng thuộc phường PH, thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận.
Trong quá trình sử dụng, cụ Th và cụ Q xây dựng được 03 căn nhà cho
05 người con sinh sống. Sau năm 1975, Nhà nước đã mượn một phần diện tích
đất và 02 căn nhà của cụ Th và cụ Q cho các cơ quan Nhà nước làm trụ sở làm
việc; phần diện tích đất còn lại và 01 căn nhà Từ đường gia đình bà L sử dụng
liên tục từ trước cho đến nay.
Năm 1993, UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành quyết định thành lập Nhà
Thiếu nhi tỉnh Ninh Thuận (sau đây gọi tắt là Nhà Thiếu nhi hoặc Nhà Thiếu nhi
Tỉnh) và giao toàn bộ diện tích đất đã mượn của gia đình cụ Th, cụ Q cho Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Ninh Thuận (sau đây gọi tắt là Tỉnh
Đoàn) sử dụng, xây dựng trụ sở mà không thu hồi, bồi thường đất cho gia đình
bà L.
Ngày 18/3/1998, UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Công văn số 292/KT
về việc thành lập Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng Nhà Thiếu nhi Tỉnh do Tỉnh
Đoàn làm chủ đầu tư, tiến hành thực hiện kiểm kê, áp giá bồi thường và tham
mưu giúp UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số 2926/QĐ ngày
10/12/1998 về đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của gia đình bà L với tổng số tiền
là 187.315.200 đồng, trong đó: Thu hồi bồi thường diện tích 6.841,75m² đất
(loại đất nông nghiệp) với số tiền 96.058.170 đồng; nhà và vật kiến trúc với số
tiền 79.298.000 đồng; hoa màu và cây ăn trái với số tiền 11.960.000 đồng. Tại
thời điểm UBND tỉnh Ninh Thuận (UBND Tỉnh) ban hành Quyết định 2926/QĐ
ngày 10/12/1998 thì cụ Th, cụ Q đã chết. Do bị áp lực từ phía UBND tỉnh Ninh
Thuận, nên bà L đã tự ý nhận số tiền bồi thường mà không được sự đồng ý của
những người thừa kế khác.
Sau khi nhận tiền đền bù, bà L cho rằng Quyết định số 2926/QĐ ngày
10/12/1998 của UBND tỉnh Ninh Thuận là không đúng vì đất là của cụ Th và cụ
Q chứ không phải của bà L nên bà L khiếu nại yêu cầu UBND tỉnh Ninh Thuận
giao lại cho gia đình bà 1.000m² đất và bồi thường diện tích đất thu hồi còn lại
theo giá đất phi nông nghiệp. Ngày 10/10/2005, UBND tỉnh Ninh Thuận ban
hành Quyết định số 3685/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà L với
nội dung là không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của bà L, chỉ công nhận cho bà L
được quyền sử dụng diện tích đất 239,15m². Sau đó, bà L tiếp tục khiếu nại đến
nhiều cơ quan Nhà nước nhưng không được giải quyết.
Trên thực tế, hiện nay gia đình bà L sử dụng diện tích khoảng 1.000m²
đất (có ranh rào rõ ràng với Tỉnh Đoàn) gắn liền với căn nhà Từ đường của cha
mẹ bà để lại từ năm 1952, nhưng đến ngày 04/5/2021 Chủ tịch UBND thành phố
PRTC ban hành Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ về biện pháp khắc phục hậu
quả, buộc bà L trả lại diện tích 657,2m² đất lấn, chiếm thuộc thửa đất số 23, tờ
bản đồ số 23, và giao cho UBND phường PH quản lý; buộc khôi phục lại tình
trạng của đất trước khi lấn, chiếm. Đến ngày 06/8/2021, Chủ tịch UBND thành
phố PRTC tiếp tục ban hành Quyết định số 2875/QĐ-CCXP về cưỡng chế buộc
thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà L và tiến hành giao cho bà L
quyết định này nhưng bà L từ chối nhận. Nhận thấy hai quyết định nêu trên được
ban hành trái pháp luật, không có căn cứ, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của mình nên ngày 19/8/2021 bà L làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND
thành phố PRTC hủy bỏ Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 nhưng
chưa được xem xét giải quyết.
Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 và Quyết định số
2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND thành phố Phan Rang -
Tháp Chàm xác định diện tích 657,2m² đất thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số 23,
phường PH là do gia đình bà L lấn, chiếm là không có cơ sở. Vì đất này do cha
mẹ bà L nhận chuyển nhượng vào năm 1952 và 1953 (có giấy mua bán đất viết
tay); sau khi cha mẹ bà L chết thì các anh, chị, em trong gia đình cùng nhau sử
dụng. Gia đình bà L đã sử dụng ổn định phần diện tích 1.000m² từ năm 1952 đến
nay đã gần 70 năm, trong quá trình sử dụng không có tranh chấp với ai, công
khai, ngay tình nên đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định tại Điều 101 Luật Đất đai năm 2013. Việc UBND thành phố Phan
Rang - Tháp Chàm xác định, bà L là người được đền bù thiệt hại khi Nhà nước
thu hồi đất theo quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch UBND
tỉnh Ninh Thuận, là không đúng.
Với lý do và căn cứ nêu trên, bà Phan Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết
như sau:
- + Hủy Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ tịch
- UBND thành phố PRTC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục
- hậu quả;
- + Hủy Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ tịch
- UBND thành phố PRTC về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;
- + Hủy Quyết định số 3685/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của Chủ tịch
- UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phan Thị L;
- + Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh
- Thuận về việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan Thị L để xây dựng
- các hạng mục công trình của Nhà Thiếu nhi Tỉnh; và hủy một phần Quyết định số
52/UB/XD ngày 25/01/1984 của Chủ tịch UBND tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh
Ninh Thuận) về việc giao đất (phần liên quan đến diện tích 7.040,82m² đất của gia
đình bà Phan Thị L) cho Thị Đoàn PRTC (Thị Đoàn).
- + Buộc UBND tỉnh Ninh Thuận trả lại toàn bộ diện tích đất đã thu hồi
- hoặc bồi thường đất ở vị trí khác và bồi thường theo giá đất ở cho gia đình bà
- Phan Thị L.
- Người bị kiện Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận và Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh Ninh Thuận, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận thống nhất trình bày:
1- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Trước giải phóng năm 1975, cha mẹ bà Phan Thị L là cụ Phan Bá Th và cụ
Phan Thị Q có sử dụng khu đất 7.040,82m² tọa lạc tại ấp Hà Thành, làng KD thuộc
phường PH, thị xã PRTC. Sau giải phóng, Nhà nước trưng thu đất và trưng dụng 02
căn nhà trong khu vực để làm trụ sở của các cơ quan quân quản, đoàn thể tỉnh Ninh
Thuận (cũ) và Huyện Đoàn Ninh Hải (gồm Phan Rang và Ninh Hải).
Ngày 25/01/1984, UBND tỉnh Thuận Hải (cũ) có Quyết định số 52/QĐ/XD
giao cho Thị Đoàn PRTC diện tích 1,4ha đất để xây dựng câu lạc bộ thanh thiếu
niên, trong đó có 7.040,82m² đất của cha mẹ bà Phan Thị L mà Nhà nước đã quản
lý sau giải phóng.
Ngày 06/4/1993, UBND tỉnh Ninh Thuận có Quyết định số 299/QĐ/UB-
NT về việc thành lập Nhà Thiếu nhi tỉnh Ninh Thuận trực thuộc Tỉnh Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh và xây dựng trên diện tích 1,4ha đất do UBND tỉnh
Thuận Hải (cũ) giao cho Thị Đoàn PRTC trước đây. Trong quá trình xây dựng,
Tỉnh Đoàn gặp một số tồn tại, vướng mắc về nhà ở của gia đình bà Phan Thị Q
đang ở trên khu đất nên chưa giải tỏa được.
Ngày 18/3/1998, UBND tỉnh Ninh Thuận có Văn bản số 292/KT về việc
thành lập Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng Nhà Thiếu nhi Tỉnh do Tỉnh Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm chủ đầu tư. Sau khi Ban chỉ đạo giải phóng
mặt bằng Nhà Thiếu nhi Tỉnh thực hiện việc kiểm kê áp giá bồi thường và đã tham
mưu UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998
về việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của bà Phan Thị L (cụ Q đã chết năm 1994)
với tổng số tiền 187.315.200 đồng. Hộ bà L đã thống nhất nhận số tiền 187.315.200
đồng và xin được giao lại 200m² đất, đồng thời tháo dỡ thu hồi vật liệu của 02 căn
nhà đã được bồi thường. Hộ bà L đã nhận đủ số tiền bồi thường tại Biên bản chứng
kiến trả tiền đền bù cho hộ bà Phan Thị L (Phiếu chi ngày 08/4/1999).
Ngày 23/6/1999, UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số
1885/QĐ về việc giao đất tại khu vực Nhà Thiếu nhi Tỉnh thuộc phường PH, thị xã
PRTC cho hộ bà Phan Thị L để làm nhà ở với diện tích là 199,95m², bà L không
đồng ý và tiếp tục khiếu nại đòi bồi thường toàn bộ diện tích đã xây dựng Nhà
Thiếu nhi tỉnh Ninh Thuận theo loại đất thổ cư và để lại cho hộ bà diện tích 1000m²
làm nhà ở.
2- Kết quả giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị L:
Bà Phan Thị L cho rằng nguồn gốc đất của hộ gia đình bà L trước đây là
loại đất “thổ cư” là sai. Vì trong “tờ bán đất” được chính quyền đương thời xác
nhận đề ngày 13/6/1952 đã ghi rõ là “sở đất rẫy” và đề ngày 11/5/1953 đã ghi rõ
“người mua có quyền canh tác khoảng đất này”; Tại tờ khai về thuế thổ trạch trong
diện tích 10.000m² đất chỉ có diện tích 60m² đất nhà ở, còn lại là đất thổ canh. Do
đó, Nhà nước đã bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp cho gia đình bà L là đúng
pháp luật và bà L đã nhận tiền từ năm 1999.
Đối với nội dung yêu cầu xin giao thêm đất, các cơ quan chức năng đã tổ
chức thực hiện giải quyết theo yêu cầu của bà L; cụ thể, Sở Tài chính – Vật giá
(nay là Sở Tài chính) tỉnh Ninh Thuận có Tờ trình số 82/TT-TCVG-VG ngày
27/01/2000 trình UBND tỉnh Ninh Thuận với nội dung đề xuất như sau: Đồng ý
giao thêm cho hộ bà Phan Thị L diện tích đất 239,15m² (có Trích lục bản đồ địa
chính lô đất do Sở Địa chính, nay là Sở Tài nguyên & Môi trường xác lập). Hộ bà
Phan Thị L phải hoàn trả lại số tiền 4.057.666 đồng Nhà nước đã bồi thường cho hộ
bà L (trong tổng số tiền đã bồi thường 187.315.200 đồng).
Ngày 10/10/2005, UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số
3685/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại về đất đai của bà Phan Thị L, với
nội dung:
- + Không chấp nhận việc bà L khiếu nại đòi giao lại 1000m² đất Nhà nước
- đã xây dựng Nhà Thiếu nhi Tỉnh và đòi bồi thường toàn bộ diện tích đất, có nguồn
- gốc sử dụng của gia đình bà L, Nhà nước đã xây dựng Nhà Thiếu nhi Tỉnh. Việc bà
- L khiếu nại là không đúng pháp luật.
- + Công nhận quyền sử dụng diện tích đất 239,15m² kéo dài theo hướng Tây
- của thửa đất được giao theo Quyết định số 1885/QĐ ngày 23/6/1999. Hộ bà L phải
- hoàn trả cho Nhà nước số tiền 4.057.666 đồng đã nhận bồi thường 239,15m² đất và
- 01 giếng nước.
- + Nếu không đồng ý nội dung quyết định này trong thời hạn 45 ngày bà L
- có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp
- luật.
Vụ việc khiếu nại của bà L đã được Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận giải
quyết theo đúng quy định của pháp luật (tại thời điểm giải quyết). Bà L không khởi
kiện vụ án hành chính tại Tòa án trong thời gian luật định nên đã hết thời hiệu khởi
kiện.
Các Quyết định số 3685/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của Chủ tịch UBND
tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phan Thị L; Quyết định
số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc đền
bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan Thị L để xây dựng các hạng mục công
trình của Nhà Thiếu nhi Tỉnh; Quyết định số 52/UB/XD ngày 25/01/1984 của Chủ
tịch UBND tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Ninh Thuận) về việc giao đất cho Thị
Đoàn PRTC (phần liên quan đến diện tích 7.040,82m² đất của gia đình bà Phan Thị
L) được ban hành đúng thẩm quyền, nội dung giải quyết đúng quy định pháp luật
tại thời điểm ban hành. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 3685/QĐ-
UBND ngày 10/10/2005, Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998, một phần
Quyết định số 52/UB/XD ngày 25/01/1984 của UBND tỉnh Thuận Hải của bà L là
không có căn cứ.
- Người bị kiện Chủ tịch UBND thành phố PRTC và người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp Chủ tịch UBND thành phố PRTC thống nhất trình bày:
- + Về nguồn gốc đất, Chủ tịch UBND thành phố PRTC thống nhất với ý
- kiến trình bày của UBND tỉnh Ninh Thuận và không bổ sung thêm.
- + Việc khiếu nại và quá trình giải quyết khiếu nại:
Việc chiếm đất tại khu đất Nhà Thiếu nhi Tỉnh, Chủ tịch UBND thành
phố PRTC đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 về việc
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Phan Thị L về hành vi chiếm
đoạt 657,2m² đất đã thu hồi và bồi thường, buộc bà L giao trả lại toàn bộ diện
tích đất đã lấn chiếm. Sau khi triển khai quyết định này tới bà L thì bà L không
thực hiện quyết định. Do đó, Chủ tịch UBND thành phố PRTC đã ban hành
Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 về việc cưỡng chế buộc thực
hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với bà Phan Thị L.
Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 và Quyết định số
2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND thành phố PRTC ban
hành là đúng thẩm quyền, nội dung quyết định đúng quy định của pháp luật. Vì
vậy, Chủ tịch UBND thành phố PRTC không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
bà L về việc hủy 02 quyết định này.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND phường PH, thành phố
PRTC, trình bày:
Thống nhất với ý kiến, quan điểm của UBND tỉnh Ninh Thuận, Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận và Chủ tịch UBND thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 02/2023/HC-ST ngày 20/02/2023,
Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã quyết định:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc:
- + Hủy Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ tịch
- UBND thành phố PRTC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục
- hậu quả.
- + Hủy Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ tịch
- UBND thành phố PRTC về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;
- + Hủy Quyết định số 3685/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của Chủ tịch
- UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phan Thị L;
- + Hủy Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh
- Ninh Thuận về việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan Thị L để xây
- dựng các hạng mục công trình của Nhà Thiếu nhi Tỉnh.
- + Hủy một phần Quyết định số 52/UB/XD ngày 25/01/1984 của Chủ tịch
- UBND tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Ninh Thuận) về việc giao đất cho Thị Đoàn
- PRTC (phần liên quan đến diện tích 7.040,82m² đất của gia đình bà Phan Thị L).
- + Buộc UBND tỉnh Ninh Thuận trả lại toàn bộ diện tích đất đã thu hồi
- hoặc bồi thường đất ở vị trí khác và bồi thường theo giá đất ở cho gia đình bà
- Phan Thị L.
2. Không hủy Quyết định số 1885/QĐ ngày 23/6/1999 của Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận và Thông báo số 36/TB-UBND ngày 21/7/2022 của Chủ
tịch UBND phường PH, thành phố PRTC.
3. Huỷ bỏ Quyết định số 02/2022/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2022 của Toà
án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí hành chính và
quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 03/3/2023, người khởi kiện bà Phan Thị L có đơn kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện bà Phan Thị L, có người đại diện theo ủy quyền là ông
Phan Thanh T tham gia phiên tòa trình bày, vẫn giữ nguyên kháng cáo yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của bà L.
Luật sư Lê Thị V trình bày ý kiến, quan điểm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người khởi kiện bà Phan Thị L:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và chưa đánh giá đầy đủ chứng cứ, cụ thể:
- + Về tố tụng:
Do cụ Th và cụ Q chết không để lại di chúc nên phát sinh quyền thừa kế
theo pháp luật đối với di sản của 02 cụ cho các đồng thừa kế là bà Phan Thị Mỹ
L2 (bà L2 chết năm 2014, có 02 con là ông Phan Cảnh T1 và ông Nguyễn Cảnh
L3), ông Phan Thanh T2 (ông T2 chết năm 1965, có con là ông Phan Thanh T),
ông Phan V1, ông Phan Đông H1 và bà Phan Thị L. Các quyết định hành chính
bị khiếu kiện đều căn cứ vào Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của
Chính phủ, trong khi tại khoản 7 Điều 6 của Nghị định này quy định: “Người
thừa kế quyền sử dụng đất hoặc nhà gắn liền với quyền sử dụng đất mà đất đó
của người đủ một trong các điều kiện quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 nhưng
chưa làm thủ tục sang tên trước bạ”, nhưng các quyết định hành chính bị khiếu
kiện này chỉ quyết định đối với hộ bà Phan Thị L, là không đúng. Thêm nữa,
ngày 02/02/2023, ông T, ông T1 và ông L3 đã có đơn đề nghị được tham gia tố
tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhưng Tòa án cấp sơ
thẩm không đưa các đồng thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Th và cụ
Q vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là
thiếu sót, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương
sự này.
Quyết định số 252/VP ngày 07/9/1999 của Văn phòng UBND tỉnh Ninh
Thuận đính chính Điều 1 của Quyết định số 1885/QĐ ngày 23/6/1999 của
UBND tỉnh Ninh Thuận là quyết định hành chính có liên quan đến các quyết
định hành chính bị khiếu nại nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, giải
quyết cũng là thiếu sót về thủ tục tố tụng theo quy định.
- + Về nội dung: Các quyết định hành chính bị khiếu kiện là không phù
- hợp với tài liệu, chứng cứ của vụ án và không đúng căn cứ pháp luật. Vì qua
- xem xét các tài liệu, chứng cứ của vụ án có đủ căn cứ xác định, về mặt pháp lý
- đến năm 1978, Nhà nước đã bàn giao lại một phần nhà và đất cho bà Quyên
- quản lý sử dụng chứ hoàn toàn không phải đất đã bị trưng thu, trưng dụng như
- xác định của Tòa án cấp sơ thẩm. Quyết định số 52/UB/XD ngày 25/01/1984
- của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giao đất cho Thị Đoàn PRTC có
- nội dung: Sau 6 tháng chưa khởi công xây dựng UBND Tỉnh sẽ thu hồi lại để
- cấp cho công trình khác. Quá trình quản lý sử dụng phần đất 1.000m² và công
- trình trên đất, bà L và những người liên quan không có bất kỳ hành vi nào là “Lấn,
- chiếm”, diện tích đất 657,25m² hoàn toàn chưa có quyết định thu hồi đất, hiện trạng
- hoàn toàn không thay đổi, chưa được Nhà Thiếu nhi hay UBND phường PH quản
- lý. Nhà Thiếu nhi đã xây tường rào bao quanh và tạm thời chỉ xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích trực tiếp quản lý sử dụng. Tại Báo cáo số
68/BC-UBND ngày 25/02/2022, UBND thành phố PRTC đã căn cứ từ tình hình
thực tế kiến nghị UBND tỉnh Ninh Thuận: Chấp nhận chủ trương cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho Nhà Thiếu nhi theo hiện trạng, phạm vi ranh
giới đang sử dụng theo đề xuất của Sở Tài nguyên và Môi trường; cho phép điều
chỉnh quy hoạch đối với phần diện tích do hộ bà Phan Thị L đã lấn, chiếm và
đang sử dụng thành quy hoạch đất ở. Sau khi điều chỉnh quy hoạch, thực hiện
nghĩa vụ tài chính để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên
tòa sơ thẩm, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh Ninh Thuận
trình bày: Về bản chất bà L chưa thực hiện nghĩa vụ bàn giao đất cho Nhà Thiếu
nhi chứ không phải lấn, chiếm. Như vậy, chưa có đủ căn cứ xác định, bà L và
những người liên quan có hành vi lấn, chiếm đất như nội dung các quyết định
hành chính bị khiếu kiện quy kết. Đối với Quyết định số 2926/QĐ ngày
10/12/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận đền bù thiệt hại khi thu hồi đất
của hộ bà Phạm Thị L còn không đúng đối tượng (Phan Thị L mới đúng) và áp giá
đất nông nghiệp là không phù hợp (bồi thường theo giá đất đô thị mới đúng).
Với các lý do và căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
hủy bản án sơ thẩm, định hướng cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo hướng
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L.
Những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày
với nội dung: Các quyết định hành chính bị khiếu kiện được ban hành đúng
thẩm quyền, trình tự thủ tục, có đủ căn cứ theo đúng quy định pháp luật. Tòa án
cấp sơ thẩm đã xét xử và quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan
Thị L, là đúng. Người khởi kiện bà Phan Thị L kháng cáo nhưng không có tài liệu,
chứng cứ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của bà L, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn
phúc thẩm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tiến hành tố
tụng giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật; các đương sự chấp hành
đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Về kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị L:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và quyết định, bác yêu cầu khởi kiện của bà
Phan Thị L là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án, có căn cứ và đúng
quy định pháp luật. Người khởi kiện Phan Thị L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của bà L nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào mới nên không có cơ sở để chấp
nhận. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo
của bà L, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị L nộp trong thời hạn và
đúng thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính nên hợp lệ, được xem
xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử
phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại khoản
4 Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét,
thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về việc tiến hành tố tụng giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm:
Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã
được Tòa án cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo quy định của Luật Tố
tụng hành chính.
[2] Về tính hợp pháp của các quyết định hành chính bị khiếu kiện:
[2.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị
khiếu kiện, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy;
Trong vụ án này, bà Phan Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các quyết
định hành chính, cụ thể gồm, một phần Quyết định số 52/UB/XD ngày
25/01/1984 của Chủ tịch UBND tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Ninh Thuận) về việc
giao đất cho Thị Đoàn PRTC (phần liên quan đến diện tích 7.040,82m² đất của gia
đình bà L), Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh
Ninh Thuận về việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan Thị L để xây
dựng các hạng mục công trình của Nhà Thiếu nhi Tỉnh, Quyết định số 3685/QĐ-
UBND ngày 10/10/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết
đơn khiếu nại của bà Phan Thị L Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021
của Chủ tịch UBND thành phố PRTC về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu
quả, Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND thành
phố PRTC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Tòa
án cấp sơ thẩm xác định các quyết định hành chính nêu trên được ban hành đúng
thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định tại Quyết định 201-CP ngày
01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng
cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước; Nghị định số 22/1998/NĐ-CP
ngày 24/4/1998 của Chính Phủ; Điều 23 Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998 sửa
đổi, bổ sung năm 2004; Điều 28, khoản 2 Điều 65, 85, 86, 87 Luật Xử lý vi
phạm hành chính năm 2012, là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.2] Về nội dung căn cứ ban hành các quyết định hành chính bị khiếu
kiện, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy;
[2.2.1] Đối với Quyết định số 52/QĐ/XD ngày 25/01/1984 của UBND tỉnh
Thuận Hải.
Hồ sơ vụ án thể hiện, sau giải phóng năm 1975, thực hiện chính sách chung
về cải tạo nhà đất, UBND tỉnh Thuận Hải tiến hành trưng thu diện tích đất
7.040,82m² là một phần trong tổng diện tích 10.000m² đất của vợ chồng cụ Phan
Bá Th, cụ Phan Thị Q, với mục đích là để làm trụ sở của các cơ quan quân quản,
đoàn thể tỉnh Ninh Thuận (cũ) và huyện đoàn Ninh Hải (gồm Phan Rang và Ninh
Hải). Thời điểm này, cụ Q còn sống nhưng không có ý kiến gì.
Về nguồn gốc đất và loại đất, vợ chồng cụ Th, cụ Q nhận chuyển nhượng
diện tích đất nêu trên từ ông Phạm Văn O và bà Lê Thị X theo “tờ bán đất” đề ngày
13/6/1952 với loại đất là “sở đất rẫy” và “tờ bán đất” đề ngày 11/5/1953 đã ghi rõ
“người mua có quyền canh tác khoảng đất này” được chính quyền đương thời xác
nhận; tại tờ khai về thuế thổ trạch trong diện tích 10.000m² đất chỉ có diện tích
60m² đất nhà ở, còn lại là đất thổ canh. Theo đó, đã có đủ cơ sở xác định vợ chồng
cụ Th, cụ Q nhận chuyển nhượng 10.000m² đất, trong đó có diện tích 60m² đất thổ
cư, còn lại là đất nông nghiệp.
Sau khi trưng thu đất, UBND tỉnh Thuận Hải đã căn cứ vào đề nghị của
Ban Xây dựng cơ bản Thuận Hải có sự thống nhất của UBND thị xã PRTC, căn
cứ vào Nghị định số 202-CP ngày 15/7/1977 và Nghị định số 47-CP ngày
15/3/1972 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về việc lựa chọn
địa điểm, công trình và quản lý đất xây dựng, ban hành Quyết định số 52/QĐ/XD
ngày 25/01/1984 giao cho Thị Đoàn PRTC diện tích 1,4 ha đất để xây dựng Câu
lạc bộ thanh thiếu niên, trong đó có 7.040,82m² đất trưng thu của cụ Th, cụ Q nêu
trên, là đúng quy định pháp luật.
[2.2.2] Đối với Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 06/4/1993, UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số
299/QĐ/UB-NT về việc thành lập Nhà Thiếu nhi tỉnh Ninh Thuận trực thuộc Tỉnh
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và xây dựng trên diện tích 1,4ha đất do
UBND tỉnh Thuận Hải cũ giao cho Thị Đoàn PRTC trước đây.
Ngày 10/12/1998, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định
số 2926/QĐ về việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan Thị L để xây
dựng các hạng mục công trình của Nhà Thiếu nhi Tỉnh.
Nhà nước trưng dụng của gia đình bà Phan Thị L diện tích đất 7.040,82m²,
trong đó có 60m² đất thổ cư, còn lại là đất nông nghiệp. Tuy nhiên, khi Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận thu hồi đất đã để lại cho gia đình bà L 200m² đất và xác
định là loại đất thổ cư. Nên phần diện tích đất thu hồi thực tế còn lại 6841,75m²
được xác định là loại đất nông nghiệp để xác định số tiền đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất là có căn cứ.
Theo Tờ trình số 339/TT-TCVG-VG ngày 30/11/1998 của Sở Tài chính
tỉnh Ninh Thuận xác định số tiền đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan
Thị L gồm: Đất: 6841,75m² x 7800đ/m² = 96.058.170 đồng (bồi thường theo giá
đất nông nghiệp) + Nhà ở và vật kiến trúc = 79.298.000 đồng + Hoa màu, cây ăn
trái = 11.960.000 đồng; tổng cộng số tiền bồi thường cho hộ bà L là 187.315.200
đồng cùng 01 lô đất thổ cư có diện tích 200m², là phù hợp với tài liệu, chứng cứ vụ
án, có căn cứ.
Do đó, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận đã căn cứ vào Tờ trình số
399/TT-TCVG-VG ngày 30/11/1998 của Sở Tài chính tỉnh Ninh Thuận; căn cứ
vào các Điều 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 32, 33 Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày
24/4/1998 của Chính phủ để ban hành Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998
đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan Thị L để xây dựng các hạng mục
công trình của Nhà Thiếu nhi Tỉnh, là đúng quy định pháp luật.
[2.2.3] Đối với Quyết định số 3685/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của Chủ
tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phan Thị L
cư trú tại phường PH, thị xã PRTC.
Do diện tích đất thu hồi thực tế của hộ bà Phan Thị L là 6841,75m² được
xác định đất nông nghiệp nên Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ
tịch UBND tỉnh Ninh Thuận đã bồi thường cho hộ bà L với tổng số tiền
187.315.200 đồng cùng 01 lô đất thổ cư có diện tích 200m², là phù hợp với tài liệu,
chứng cứ vụ án và có căn cứ pháp luật. Nên khiếu nại của bà Phan Thị L yêu cầu
UBND Tỉnh giao lại 1000m² đất Nhà nước đã xây dựng Nhà Thiếu nhi Tỉnh và
bồi thường toàn bộ diện tích đất đã thu hồi của gia đình bà L theo giá đất ở do
Nhà nước quy định là không có cơ sở.
Tuy nhiên, sau khi xem xét nhu cầu về đất ở của hộ bà Phan Thị L và đề
xuất của Sở Tài chính tỉnh Ninh Thuận, UBND Tỉnh đã ban hành Quyết định số
1885/QĐ ngày 23/6/1999 có nội dung giao cho hộ bà L diện tích 239,15m² kéo
dài theo hướng tây thửa đất. Hộ bà L được sử dụng theo quy định của pháp luật.
Song, hộ bà L phải hoàn trả cho Nhà nước số tiền 4.057.666 đồng (bốn triệu không
trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) đã nhận bồi thường đối với
239,15m² và 01 giếng nước. Nội dung giải quyết khiếu nại này của Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận là phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với quy định
của pháp luật.
Do đó, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận đã căn cứ vào các Điều 38, 42,
138 Luật Đất đai năm 2003; Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02/12/1998 và Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo ngày 15/6/2004, để ban hành
Quyết định số 3685/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 về việc giải quyết đơn khiếu nại
của bà Phan Thị L, với nội dung: “Không chấp nhận việc bà Phan Thị L khiếu nại
đòi giao lại 1000m² đất Nhà nước đã xây dựng Nhà Thiếu nhi Tỉnh và bồi thường
toàn bộ diện tích đất có nguồn gốc sử dụng của gia đình bà Nhà nước đã xây dựng
Nhà Thiếu nhi Tỉnh. Việc bà L khiếu nại là không đúng pháp luật. Công nhận
quyền sử dụng đất diện tích 239,15m², kéo dài theo hướng tây thửa đất được giao
tại Quyết định số 1885/QĐ ngày 23/6/1999, hộ bà L được sử dụng theo quy định
của pháp luật. Hộ bà L phải hoàn trả cho Nhà nước số tiền 4.057.666 đồng (bốn
triệu không trăm năm mươi bảy ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) đã nhận bồi
thường 239,15m² và 01 giếng nước”, là đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho
bà L theo đúng quy định pháp luật.
[2.2.4] Đối với Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ
tịch UBND thành phố PRTC áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998, Chủ tịch UBND tỉnh Ninh
Thuận đã quyết định bồi thường cho hộ bà Phan Thị L 187.315.200 đồng và giao
01 lô đất thổ cư có diện tích 200m². Theo đó, ngày 23/6/1999, Chủ tịch UBND tỉnh
Ninh Thuận ban hành Quyết định số 1885/QĐ có nội dung giao đất cho hộ bà L
theo nội dung Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch UBND tỉnh
Ninh Thuận, diện tích đất thực giao là 199,95m². Sau đó, ngày 10/10/2005, Chủ
tịch UBND tỉnh Ninh Thuận ban hành Quyết định số 3685/QĐ-UBND về việc
giải quyết đơn khiếu nại của bà L; trong đó đã công nhận quyền sử dụng đất diện
tích 239,15m² kéo dài theo hướng tây thửa đất được giao tại Quyết định số
1885/QĐ ngày 23/6/1999 cho hộ bà L. Như vậy, tổng diện tích đất hộ bà L được
giao là 439,1m².
Tuy nhiên, diện tích đất thực tế hiện nay, hộ bà Phan Thị L đang sử dụng
lớn hơn phần diện tích được giao là 657,2m². Phần diện tích tăng thêm được xác
định là do hộ bà L đã lấn, chiếm đất xây dựng Nhà Thiếu nhi Tỉnh do UBND
phường Phủ Hả quản lý. Vì vậy, Chủ tịch UBND thành phố PRTC đã căn cứ vào
Biên bản xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-GQ ngày 17/01/2019 của
UBND thành phố PRTC; Điều 6, Điều 28, khoản 2 Điều 65, Điều 85 Luật Xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai; Nghị định số 97/2017/NĐ-
CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều nghị định số
81/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi
hành Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày
19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai,
để ban hành Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả, buộc bà Phan Thị L phải thực hiện việc giao trả lại diện tích
đất 657,2m² đã thu hồi và bồi thường để thực hiện dự án Nhà Thiếu nhi Tỉnh do
UBND phường PH quản lý do bà L lấn, chiếm thuộc thửa đất số 23, tờ bản đồ số
23 (theo trích lục khu đất ngày 02/7/2020), là đúng quy định pháp luật.
[2.2.5] Đối với Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ
tịch UBND thành phố PRTC cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu
quả.
Ngày 10/5/2021, Trưởng Khu phố 2, phường PH và đại diện UBND
phường PH đã tiến hành giao Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 áp
dụng biện pháp khắc phục hậu quả cho bà Phan Thị L, nhưng bà L không đồng ý
nhận quyết định này, sự việc được đại diện UBND phường PH và Trưởng Khu phố
2 lập thành biên bản theo quy định. Đến ngày 22/6/2021, Đội Quản lý trật tự đô thị
thành phố PRTC đã tiến hành kiểm tra, lập biên bản kiểm tra và xác định tại thời
điểm ngày 22/6/2021 bà Phan Thị L chưa thực hiện khắc phục hậu quả theo Quyết
định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ tịch UBND thành phố PRTC.
Do đó, Đội Quản lý trật tự đô thị có Tờ trình số 17A/TTr-TTĐT ngày 02/8/2021
đề nghị Chủ tịch UBND thành phố PRTC ban hành Quyết định cưỡng chế thi
hành Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ tịch UBND thành
phố PRTC.
Xét Tờ trình số 17A/TTr-TTĐT ngày 02/8/2021 của Đội Quản lý trật tự
đô thị nêu trên, Chủ tịch UBND thành phố PRTC đã căn cứ vào các Điều 28, 86,
87 Luật Xử lý vi phạm hành chính và Điều 33 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP
ngày 12/11/2013 của Chính phủ, để ban hành Quyết định số 2875/QĐ-CCXP
ngày 06/8/2021 cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, buộc bà
Phan Thị L phải thực hiện việc giao trả lại diện tích 657,2m² đất cho UBND
phường PH quản lý do bà L lấn, chiếm để sử dụng, là đúng pháp luật.
[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc buộc UBND
tỉnh Ninh Thuận trả lại toàn bộ diện tích đất đã thu hồi hoặc bồi thường đất ở vị
trí khác và bồi thường theo giá đất ở cho gia đình bà L, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận thấy;
Do đã có đủ căn cứ xác định các quyết định hành chính bị khiếu kiện nêu
trên được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, có căn cứ, đúng quy định
pháp luật; nêu yêu cầu của bà Phan Thị L về việc buộc UBND tỉnh Ninh Thuận
trả lại toàn bộ diện tích đất đã thu hồi hoặc bồi thường đất ở vị trí khác và bồi
thường theo giá đất ở cho gia đình bà L, là không có cơ sở.
[2.4] Đối với Quyết định số 1885/QĐ ngày 23/6/1999 của Chủ tịch UBND
tỉnh Ninh Thuận và Thông báo số 36/TB-UBND ngày 21/7/2022 của Chủ tịch
UBND phường PH, thành phố PRTC là các quyết định hành chính có liên quan
đến các quyết định hành chính bị khiếu kiện. Do các quyết định hành chính bị
khiếu kiện nêu trên đã được xác định ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ
tục, có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định,
không có cơ sở hủy các quyết định hành chính có liên quan là Quyết định số
1885/QĐ ngày 23/6/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận và Thông báo số
36/TB-UBND ngày 21/7/2022 của Chủ tịch UBND phường PH, thành phố
PRTC, là đúng.
[3] Đối với việc bà Phan Thị L cho rằng, diện tích 7.040,82m² đất mà Nhà
nước đã trưng dụng của gia đình bà L có nguồn gốc là của cha mẹ bà L là cụ Phan
Bá Th và cụ Phan Thị Q nên khi Nhà nước thu hồi và đền bù thu hồi đất phải xác
định người bị thu hồi là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Th và
Quyên là không có cơ sở. Vì tại thời điểm thu hồi đất (năm 1976) của cụ Th và cụ
Q, Nhà nước chưa có chính sách cụ thể về việc đền bù, hỗ trợ khi thu hồi đất. Đến
khi Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ được ban
hành, UBND tỉnh Ninh Thuận mới có căn cứ pháp lý để thực hiện việc bồi
thường, hỗ trợ về đất cho người bị thu hồi đất. Vào thời điểm này, cụ Th và cụ Q
đã chết nên UBND tỉnh Ninh Thuận xác định người được đền bù là người đang
trực tiếp quản lý, sử dụng đất (bà Phan Thị L) là đúng. Trường hợp những người
thừa kế của cụ Th và cụ Q có tranh chấp thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự yêu
cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp của mình theo quy định pháp luật.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận
đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2022/QĐ-
BPKCTT ngày 22/7/2022 có nội dung: Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định
sau: Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ tịch UBND thành
phố PRTC; Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ tịch UBND
thành phố PRTC; Thông báo số 36/TB-UBND ngày 21/7/2022 của Chủ tịch
UBND phường PH, thành phố PRTC, tỉnh Ninh Thuận.
Xét thấy, các Quyết định hành chính nêu trên được ban hành đúng thẩm
quyền, đúng trình tự và có nội dung đúng quy định của pháp luật; các yêu cầu
khởi kiện của bà Phan Thị L là không có cơ sở. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác
định, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cần phải huỷ bỏ theo quy
định tại khoản 2 Điều 74 Luật Tố tụng hành chính, là đúng
[5] Từ những nhận định và căn cứ nêu trên xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm
đã xét xử và quyết định bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L, là có căn cứ,
đúng quy định pháp luật. Người khởi kiện Phan Thị L kháng cáo nhưng không
có tài liệu, chứng cứ nào mới, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến,
quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, không chấp nhận
kháng cáo của bà L; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[6] Những ý kiến, quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người bị kiện trình bày tại phiên tòa phúc thẩm do phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nêu trên nên được chấp nhận.
[7] Về án phí hành chính phúc thẩm: Đương sự kháng cáo bà Phan Thị L
được miễn nộp do bà L là người cao tuổi được miễn nộp án phí theo quy định tại
điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính.
1- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị L; giữ
nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm: 02/2023/HC-ST ngày
20/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, khoản 2 Điều 74, điểm a
khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 204, Điều 206, Điều 211 và Điều 213 Luật
Tố tụng hành chính;
Căn cứ vào Điều 6, Điều 28, khoản 2 Điều 65, các Điều 85, 86, 87 Luật
Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 38, 42, 138 Luật Đất đai năm 2003; Luật
Khiếu nại, tố cáo ngày 02/12/1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật khiếu nại, tố cáo ngày 15/6/2004.
Căn cứ Điều 33 Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của
Chính phủ; Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 81/2013/NĐ- CP ngày 19/7/2013 quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Nghị định số 91/2019/NĐ-CP ngày 19/11/2019 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; các Điều 2, 3, 4, 5, 6, 8, 9, 32, 33 Nghị
định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng; Nghị định số 202-CP ngày 15/7/1977 của Hội đồng
Chính phủ; Nghị định số 47-CP ngày 15/3/1972 của Hội đồng Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị L về việc:
- + Yêu cầu hủy Quyết định số 2875/QĐ-CCXP ngày 06/8/2021 của Chủ
- tịch UBND thành phố PRTC về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc
- phục hậu quả.
- + Yêu cầu hủy Quyết định số 1600/QĐ-KPHQ ngày 04/5/2021 của Chủ
- tịch UBND thành phố PRTC về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả;
- + Yêu cầu hủy Quyết định số 3685/QĐ-UBND ngày 10/10/2005 của Chủ
- tịch UBND tỉnh Ninh Thuận về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phan Thị L
- cư trú tại phường PH, thị xã PRTC.
- + Yêu cầu hủy Quyết định số 2926/QĐ ngày 10/12/1998 của Chủ tịch
- UBND tỉnh Ninh Thuận về việc đền bù thiệt hại khi thu hồi đất của hộ bà Phan
- Thị L để xây dựng các hạng mục công trình của Nhà thiếu nhi tỉnh.
- + Yêu cầu hủy một phần Quyết định số 52/UB/XD ngày 25/01/1984 của
- Chủ tịch UBND tỉnh Thuận Hải (nay là tỉnh Ninh Thuận) về việc giao đất cho
- Thị Đoàn PRTC (phần liên quan đến diện tích 7.040,82m² đất của gia đình bà Phan
- Thị L).
- + Yêu cầu buộc UBND tỉnh Ninh Thuận trả lại toàn bộ diện tích đất đã
- thu hồi hoặc bồi thường đất ở vị trí khác và bồi thường theo giá đất ở cho gia
- đình bà Phan Thị L.
1.2. Không hủy Quyết định số 1885/QĐ ngày 23/6/1999 của Chủ tịch
UBND tỉnh Ninh Thuận và Thông báo số 36/TB-UBND ngày 21/7/2022 của Chủ
tịch UBND phường PH, thành phố PRTC.
1.3. Huỷ bỏ Quyết định số 02/2022/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2022 của
Toà án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
1.4. Về án phí hành chính sơ thầm: Người khởi kiện bà Phan Thị L được
miễn nộp.
2- Về án phí hành chính phúc thẩm: Miễn nộp án phí hành chính phúc
thẩm cho đương sự kháng cáo bà Phan Thị L.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
là ngày 30 tháng 8 năm 2023./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đình Thanh |
Bản án số 772/2023/HC-PT ngày 30/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định giao đất, quyết định bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất, quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai; buộc trả lại đất hoặc bồi thường bằng đất ở, giá đất ở.
- Số bản án: 772/2023/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: khiếu kiện quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định giao đất, quyết định bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất, quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai; buộc trả lại đất hoặc bồi thường bằng đất ở, giá đất ở.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2023
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Phan Thị L; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm: 02/2023/HC-ST ngày 20/02/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận
