TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 771/2024/DS-ST
Ngày: 23-9-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Lợi;
- Bà Lê Thị Phương Hồ.
Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Hà Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 499/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 548/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 625/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Mộng T, sinh năm: 1984; địa chỉ: Số A đường H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Lương Thị H, sinh năm: 1985; địa chỉ: Số H đường B, Khu phố A, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Mai Văn T1, sinh năm: 1966; địa chỉ: Số A đường H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
- 3.2. Ông Lê Hoàng C1; địa chỉ: Số F Đường A, Tổ C, Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Đặng Quý C, sinh năm: 1975; địa chỉ: Số B T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 06 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Đặng Quý C thống nhất trình bày:
Bà với bà Lương Thị H là chị em quen biết thân thiết ngoài xã hội. Bà không nhớ rõ ngày chính xác đưa cho bà H mượn số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), nhưng bà đã đưa cho bà H 03 lần, mỗi lần đưa 300.000.000 đồng, mỗi lần đưa cách nhau khoảng 2-3 tháng. Địa điểm cho mượn tiền tại nhà bà thuê ở địa chỉ số A đường H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, việc cho mượn không thỏa thuận lãi suất. Thời hạn trả nợ là 01 năm, không lập văn bản mượn tiền. Giấy xác nhận công nợ lập ngày 15/6/2022 là bà viết, bà H và bà ký ghi họ tên vào phần của từng người. Giấy thừa nhận nợ là do bà H viết, chữ Lương Thị H trong giấy là do bà H viết. Mục đích các bên vay mượn tiền là bà H mượn buôn bán mỹ phẩm. Giấy công nợ là do bà tự nguyện viết và ký tên. Từ khi vay đến nay, bà H chưa trả cho bà được khoản tiền nào. Đối với yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà H vay mượn bà số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), do bà cho bà H vay tiền mặt nên bà không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh mà chỉ cung cấp được giấy xác nhận công nợ (đã cung cấp cho tòa án kèm theo đơn khởi kiện).
Khi nợ đến hạn, bà có gọi điện thoại di động yêu cầu bà H trả nợ số tiền trên khoảng 3 - 4 lần nhưng sau này Huyền né tránh nên bà yêu cầu bà H xác nhận công nợ vào ngày 15/6/2022 cho bà. Bà có gọi điện thoại di động yêu cầu H trả số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) và bà H đồng ý và hứa hẹn nhiều lần nhưng không thực hiện. Bà cho bà H vay tiền thì chồng bà không biết, số tiền cho vay là tài sản riêng của bà. Bà xác định chỉ yêu cầu bà H trả số tiền trên.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lương Thị H trả tổng số tiền 1.072.000.0xxxđ (một tỷ không trăm bảy hai triệu đồng), trong đó: Nợ gốc là 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) và nợ tiền lãi tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022 cho đến ngày khởi kiện là ngày 06/10/2023: 900.000.000đ x 1,2%/tháng x 16 tháng = 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng). Trả một lần khi quyết định, bản án có hiệu lực pháp luật.
Tại Bản tự khai (bút lục 54), Biên bản đối chất ngày 21/8/2024 và Biên bản hòa giải ngày 21/8/2024, bà Lương Thị H trình bày:
Bà thừa nhận giữa bà và bà Nguyễn Mộng T là chị em quen biết thân thiết ngoài xã hội. Bà T cho rằng bà T cho bà mượn tiền khoảng 01 năm trước khi viết giấy công nợ ngày 15/6/2022 là đúng nhưng cho rằng đưa cho bà 03 lần, mỗi lần đưa 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng), mỗi lần đưa cách nhau khoảng 2-3 tháng là không đúng. Bà T chỉ đưa cho bà 02 lần, lần đầu 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), lần thứ hai đưa 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Địa điểm cho mượn tiền tại nhà bà T thuê ở địa chỉ số A đường H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc vay mượn có thỏa thuận lãi suất: Đối với số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) bà T đưa lần đầu lãi suất là 8.000.000đ/tháng (tám triệu đồng/01 tháng). Bà đóng được khoảng 01 năm; đối với số tiền mượn 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) thì lãi suất là cứ 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) đóng 5.000.000đ/tháng (năm triệu đồng/01 tháng) tức là 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) thì đóng lãi 10.000.000đ (mười triệu đồng/01 tháng), bà đóng được khoảng 03 tháng. Hình thức cho vay không kỳ hạn. Việc đóng tiền lãi không lập biên bản giao nhận tiền. Việc vay mượn không lập biên bản vay mượn tiền. Bà thống nhất Giấy công nợ lập ngày 15/6/2022 là do bà T viết, bà ký và ghi họ tên. Giấy thừa nhận nợ ngày 20/6/2022 là do bà viết và ghi họ tên, sau đó chụp gửi qua điện thoại di động cho bà T. Hiện tại, bà không còn giữ bản chính giấy này do đã thất lạc. Mục đích vay phục vụ mục đích kinh doanh. Bà T gọi điện đe dọa, ép buộc ảnh hưởng tinh thần bà nên bà phải ký vào giấy công nợ. Chuyện này chỉ có bà và bà T biết và bà không trình báo công an.
Từ khi vay đến nay, bà đã đóng được 01 năm, khoảng 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tiền lãi (không nhớ số tiền cụ thể) đối với khoản vay 100.000.000đ một trăm triệu đồng). Còn khoản vay 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), bà đã đóng được khoảng 03 tháng tiền lãi, khoảng 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Do thời gian quá lâu nên bà không nhớ chính xác số tiền cụ thể đã đóng cho bà T. Vì vậy, bà không yêu cầu Tòa án tính lại số tiền lãi mà bà đã đóng cho bà T. Bà yêu cầu bà T cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà vay mượn bà T số tiền 900.000.000đ. Bà T có gọi điện thoại di động yêu cầu bà trả nợ nhiều lần nhưng bà không né tránh, nếu né tránh thì bà không có mặt tại Tòa án. Bà T chỉ hỏi bà đến lúc nào trả tiền cho bà T chứ không yêu cầu bà trả bao nhiêu tiền. Chồng bà là ông Lê Hoàng C1 không biết việc vay mượn tiền của bà T. Bà xác định việc vay mượn nhằm mục đích kinh doanh có lãi sẽ phục vụ cho gia đình.
Qua đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Mộng T thì bà không đồng ý. Bà chỉ vay bà T 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) nên chỉ đồng ý trả 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng. Do số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) là bà T cộng dồn tiền lãi mà thành nên bà chỉ đồng ý trả 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Tại Bản khai ngày 22/8/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Văn T1 trình bày:
Ông là chồng của bà Nguyễn Mộng T, ông có biết việc nhiều lần vợ chồng bà H hỏi vay mượn tiền bà T, số tiền này là tài sản riêng của bà T, ông không có yêu cầu gì hay tranh chấp với bà T đối với số tiền cho bà H mượn. Ông không chứng kiến việc bà T cho bà H mượn số tiền trong vụ án này. Ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng bà H trả lại tiền cho bà T. Vì điều kiện công việc không cho phép nên không thể tham gia phiên tòa, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông.
Ông Lê Hoàng C1 vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa:
- - Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn trình bày:
- + Nguyên đơn xác định không yêu cầu chồng của bà H là ông Lê Hoàng C1 có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) cho nguyên đơn.
- + Nguyên đơn không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” đối với bà Lương Thị H.
- + Nguyên đơn rút yêu cầu đối với yêu cầu trả khoản tiền lãi 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng).
- + Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn bà Lương Thị H trả số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
- - Bị đơn bà Lương Thị H đồng ý yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) và đồng ý trả 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Ông Mai Văn T1 xin vắng mặt.
Ông Lê Hoàng C1 vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm.
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng Tòa án còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, vi phạm trên không làm ảnh hưởng đến tính khách quan, đúng đắn để giải quyết vụ án này nên đề xuất kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm.
Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 92, Điều 196, Điều 203; Điều 220, khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015; Căn cứ các Điều 280, 357, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Mộng T: Buộc bà Lương Thị H phải trả cho nguyên đơn số tiền vay là 900.000.000 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Đình chỉ yêu cầu phần tiền lãi, do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
[1.2]. Tư cách đương sự:
- - Trong vụ án này, vợ chồng bà Nguyễn Mộng T và ông Mai Văn T1 đều thừa nhận, số tiền mà bà T cho bà H vay là tài sản riêng của bà T nên Hội đồng xét xử không đưa ông Mai Văn T1 là chồng của bà T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.
- - Trong vụ án này, bà Nguyễn Mộng T chỉ yêu cầu bà Lương Thị H trả nợ vay mà không yêu cầu vợ chồng bà Lương Thị H và ông Lê Hoàng C1 trả nợ vay nên Hội đồng xét xử không đưa ông Lê Hoàng C1 là chồng của bà H vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T.
- Tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và nguyên đơn rút yêu cầu đối với số tiền lãi 172.000.0000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng). Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn trả số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Thi hành ngày khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là sự tự nguyện của nguyên đơn, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu, không trái với đạo đức xã hội, không vi phạm quy định của pháp luật và hoàn toàn có lợi cho bị đơn; căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ phần yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền lãi 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng).
[2.2]. Đối với yêu cầu bị đơn Lương Thị H trả số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), không yêu cầu tính lãi. Thi hành ngày khi bản án có hiệu lực pháp luật của bà Nguyễn Mộng T.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, giao nộp và Tòa án thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, có cơ sở xác định:
Thứ nhất, trước khi khởi kiện vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T đã gọi điện thoại di động thông báo về việc đòi lại số tiền trên cho bị đơn bà Lương Thị H và được bà H thừa nhận và bà H xác nhận hình thức vay là không kỳ hạn. Như vậy, bà T đã thông báo một thời gian hợp lý theo quy định tại khoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn). Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Thứ hai, xét thấy việc bà T cho bà H vay 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) là có thật. Bởi lẽ, bà T với bà H là chị em quen biết thân thiết ngoài xã hội, nhiều lần bà T đã cho bà H vay mượn tiền tại địa chỉ số A H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và không lập biên bản vay mượn tiền. Các tình tiết trên các bên đều thừa nhận. Cụ thể, khoảng 01 năm trước khi khởi kiện, bà T đã đưa cho bà H mượn 03 lần, mỗi lần đưa 300.000.000 đồng, mỗi lần đưa cách nhau khoảng 2-3 tháng tại địa chỉ số A H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù, việc cho vay mượn tiền không lập giấy nợ nhưng theo lời khai nhận của bà H thì bà H thống nhất Giấy công nợ lập ngày 15/6/2022 giữa bà Nguyễn Mộng T với bà Lương Thị H là do bà T viết, bà H ký và ghi họ tên và Giấy thừa nhận nợ lập ngày 20/6/2022 là do bà Lương Thị H viết và ghi họ tên, sau đó chụp gửi qua điện thoại di động cho bà Nguyễn Mộng T. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì vậy, bà Nguyễn Mộng T khởi kiện bà Lương Thị H trả số tiền nợ gốc 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng) là có cơ sở chấp nhận. Do bà H đã nợ số tiền vay trên nhưng vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Xét yêu cầu cầu của bà T yêu cầu bà H trả số tiền nêu trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ. Căn cứ vào Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, cần buộc bà H phải trả tiền lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được xác định theo sự thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 kể từ ngày bà T có đơn yêu cầu thi hành án tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành.
[2.3]. Xét lời trình bày của bà Lương Thị H: Qua đơn yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Mộng T thì bà không đồng ý. Bà chỉ vay bà T 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng) nên bà chỉ đồng ý trả 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng). Bà cho rằng số tiền mà bà vay của bà T là 300.000.000 đồng, còn số tiền 900.000.000đ mà bà T buộc bà trả là do bà T cộng dồn tiền lãi mà thành và bà T gọi điện thoại di động đe dọa, ép buộc ảnh hưởng tinh thần bà nên bà phải ký vào giấy xác công nợ lập ngày 15/6/2022 và giấy nhận nợ lập ngày 22/6/2022, việc này chỉ có bà và bà T biết, nhưng bà không trình báo công an.
Xét thấy, bà Lương Thị H, sinh năm 1985, tại thời điểm giao dịch với bà Nguyễn Mộng T thì bà H đã trên 18 tuổi, là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không mất năng lực hành vi dân sự, không khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi. Lời trình bày của bà H không được bà T thừa nhận và bà H không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh lời trình bày của bà là có cơ sở.
Mặt khác, Tòa án đã tiến hành đối chất giữa bà T với bà H nhưng cũng không giải quyết mâu thuẫn trong các lời trình bày của các đương sự; bà H cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ thuyết phục để chứng minh lời trình bày của bà H là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét. Như vậy, không có cơ sở để xác định bà H bị đe dọa, cưỡng ép khi xác lập giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, giao dịch vay mượn tiền nêu trên không vô hiệu.
[2.4]. Ngoài ra, bà H trình bày: Từ khi vay đến nay, bà đã đóng được 01 năm, khoảng 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tiền lãi (không nhớ số tiền cụ thể) đối với khoản vay 100.000.000đ một trăm triệu đồng). Còn khoản vay 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), bà đã đóng được khoảng 03 tháng tiền lãi, khoảng 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Do thời gian quá lâu nên bà không nhớ chính xác số tiền cụ thể đã đóng cho bà T. Vì vậy, bà H không yêu cầu Tòa án tính lại số tiền lãi mà bà đã đóng cho bà T nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Do yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn Lương Thị H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Bà Nguyễn Mộng T được trả lại tiền tạm ứng án phí theo quy định.
[4] Về ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa về việc giải quyết vụ án: Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là phù hợp, Hội đồng xét xử ghi nhận. Về nội dung vụ án, đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 271; và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Điều 357, Điều 466, Điều 468, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- [1]. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu buộc bà Lương Thị H trả lại cho bà Nguyễn Mộng T nợ lãi 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng) tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022 cho đến ngày khởi kiện là ngày 06/10/2023: 900.000.000đ x 1,2%/tháng x 16 tháng = 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng)).
- [2]. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T đối với bị đơn bà Lương Thị H.
- [3]. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Buộc bị đơn bà Lương Thị H phải chịu nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 39.000.000đ (ba mươi chín triệu đồng).
- - Trả lại cho nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T số tiền tạm ứng án phí là 22.080.000đ (hai mươi hai triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2023/0018339 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- [4]. Về quyền yêu cầu thi hành án:
- [5]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Buộc bị đơn bà Lương Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Mộng T số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dương Anh Đạt |
Bản án số 771/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 771/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu buộc bà Lương Thị H trả lại cho bà Nguyễn Mộng T nợ lãi 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng) tính từ ngày 15 tháng 6 năm 2022 cho đến ngày khởi kiện là ngày 06/10/2023: 900.000.000đ x 1,2%/tháng x 16 tháng = 172.000.000đ (một trăm bảy mươi hai triệu đồng)). [2]. Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Mộng T đối với bị đơn bà Lương Thị H. Buộc bị đơn bà Lương Thị H phải có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Mộng T số tiền 900.000.000đ (chín trăm triệu đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
