Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 771/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/5/2025

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh
  2. Bà Hồ Thị Lang

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trân - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 2681/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc Thùy L, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt)
  2. Địa chỉ: C B, Phường B (trước đây là Phường A), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

  3. Bị đơn: Ông Võ Khắc T, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
  4. Địa chỉ: C B, Phường B (trước đây là Phường A), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và các bản trình bày ý kiến và các biên bản hòa giải, làm việc tại Tòa án, nguyên đơn, bà Phạm Ngọc Thùy L trình bày: Bà và ông Võ Khắc T đã tự nguyện tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 07/05/2010. Năm 2012 bà sinh bé gái đầu lòng, thời gian này chồng bà là ông T làm ăn thất bại, vay vốn ba mẹ ruột bà L để làm ăn kinh doanh nhiều lần nhưng vẫn thua lỗ và không có tiền trả nhưng gia đình bà vẫn bỏ qua. Từ cuối năm 2014 chồng bà đi làm xa, ít khi về, bà có khuyên nhưng ông T càng đi lâu hơn và không chu cấp tiền nuôi con. Do thấy con cần ba mẹ đầy đủ nên giữa năm 2020 bà đồng ý gọi chồng về sống cùng nhau. Đến năm 2022, bà sinh bé trai thứ 2, thời gian này chồng bà vẫn đi làm xa, từ đó không liên lạc về nhà nữa. Tết năm 2024 thì chồng về nhà thăm con được 2 ngày và từ đó đến nay là cắt đứt liên lạc hoàn toàn, không hỏi thăm, không về thăm con, không chu cấp tiền nuôi 2 con. Ông bà không còn yêu thương nhau và sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Trong quá trình này bà cảm thấy không còn tình cảm, cũng như không muốn tiếp tục kéo dài, không muốn cứu vãn nên tha thiết xin được ly hôn ông Võ Khắc T.

Về con chung: Bà và ông Võ Khắc T có hai người con chung tên Võ Phạm Hải N, sinh ngày 24/02/2012 và Võ Phạm Hải Nguyên sinh ngày 11/10/2022. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được quyền nuôi cả 02 người con.

Về cấp dưỡng: Bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Ông Võ Khắc T vắng mặt, không gửi đến Tòa án tài liệu chứng cứ và bản ghi ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hai bên đoàn tụ nhưng bị đơn vắng mặt nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn: Bà Phạm Ngọc Thùy L có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn ông Võ Khắc T, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên là: Võ Phạm Hải N, sinh ngày 24/02/2012 và Võ Phạm Hải Nguyên sinh ngày 11/10/2022 và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn: Ông Võ Khắc T vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110 và 116 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Ngọc Thùy L với ông Võ Khắc T. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà L, giao 2 cháu Võ Phạm Hải N, sinh ngày 24/02/2012 và Võ Phạm Hải N1, sinh ngày 11/10/2022 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì giữa các bên đã phát sinh quan hệ tranh chấp “Ly hôn”, bị đơn có địa chỉ cư trú cuối cùng tại quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét việc khởi kiện của nguyên đơn phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Xét yêu cầu của đương sự:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Ngọc Thùy L yêu cầu ly hôn ông Võ Khắc T.

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 63, ngày 07/5/2010 Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.

Xét lời khai của bà L cho thấy, quá trình kết hôn và chung sống, ông T thường xuyên vắng nhà, không quan tâm chăm sóc gia đình. Quá trình thụ lý vụ án, Tòa án cũng đã động viên bà L liên lạc với ông T, cho ông thêm cơ hội, đồng thời tống đạt giấy triệu tập nhiều lần để mời ông T đến Tòa án trình bày ý kiến và hòa giải đoàn tụ, nhưng không T không đến Tòa, không gửi văn bản trình bày ý kiến và yêu cầu cũng như các tài liệu chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà L nên không ghi nhận được ý kiến và mong muốn của ông, cho thấy ông T không có thiện chí hòa giải, không có mong muốn đoàn tụ, mặc dù đã được Tòa án động viên đoàn tụ nhưng bà L kiên quyết ly hôn. Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân phải là sự tự nguyện từ hai bên, vợ chồng phải yêu thương, tôn trọng lẫn nhau, cùng mong muốn xây dựng hạnh phúc gia đình thì mục đích hôn nhân mới đạt được, nhưng ông T và bà L đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, cho thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà L là trầm trọng, việc ông T vắng nhà thường xuyên, không liên lạc về thăm con, cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà L và ông T có 02 con chung là Võ Phạm Hải N, sinh ngày 24/02/2012 và Võ Phạm Hải N1, sinh ngày 11/10/2022. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc 2 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy:

Nhận thấy, qua lấy ý kiến trẻ Võ Phạm Hải N, sinh ngày 24/02/2012 có nguyện vọng sống với mẹ và trẻ Võ Phạm Hải N1, sinh ngày 11/10/2022 là chưa đủ 36 tháng tuổi, cả hai trẻ đều đang trong độ tuổi cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ về mặt tình cảm và sức khỏe, cả hai trẻ hiện đang sống cùng với mẹ. Xét quyền lợi về mọi mặt của trẻ, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp chận yêu cầu của bà L.

Về cấp dưỡng: Bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Hội đồng xét xử đã giải thích quy định pháp luật về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ sau ly hôn cho đương sự.

[2.3] Về tài sản: Tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đối với phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã nhận định đúng về thủ tục tố tụng, phân tích đúng nội dung của vụ án, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh về việc giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật và có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Ngọc Thùy L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Điều 19, 51, 56, 58, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Điều 26 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Phạm Ngọc Thùy L

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Ngọc Thùy L được ly hôn ông Võ Khắc T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 07/5/2010 của Ủy ban nhân dân Phường A (Nay là Phường B), quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không còn giá trị pháp lý kể từ khi bản án này có hiệu lực pháp luật.

1.2 Về con chung: Giao con chung tên Võ Phạm Hải N, sinh ngày 24/02/2012 và Võ Phạm Hải N1, sinh ngày 11/10/2022 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

1.3 Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét do bà L không yêu cầu.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi và do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4 Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí sơ thẩm:

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng do bà Phạm Ngọc Thùy L phải chịu, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0054568 ngày 25/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi cấn trừ, bà L đã nộp đủ án phí.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Viện kiểm sát nhân dân nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh được quyền kháng nghị trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • TAND TP.HCM;
  • VKSND Q. Bình Thạnh;
  • THADS Q. Bình Thạnh;
  • UBND Phường 2, Q. Bình Thạnh;
  • Lưu hồ sơ, VP.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Hoàng Oanh

Nguyễn Kiều Trang

Hồ Thị Lang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 771/2025/HNGĐ-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 771/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Thùy L ly hôn Võ Khắc T, yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu giải quyết tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger