|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 771/2024/HC-PT
Ngày: 24 - 7 - 2024
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Lê Thúy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Hồng Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 164/2024/TLPT-HC ngày 04 tháng 3 năm 2024, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 1911/2023/HC-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2220/2024/QĐPT, ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Trương Quốc H. Địa chỉ: B ngõ T, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Điền Thế N. Địa chỉ: G T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E. Địa chỉ: B A, phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân T – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
+ Ông Nguyễn Xuân Q – Phó trưởng phòng Quản lý đô thị Quận E. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
+ Ông Trần Văn Hà T1 – Chuyên viên phòng Q1. Có mặt.
2. Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H. Địa chỉ: A P, phường G, quận B, TP Hồ Chí Minh.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Đức V - Chi nhánh Văn phòng Đ. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Phương L. Địa chỉ: Số A Đoàn T, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Điền Thế N. Địa chỉ: G T, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
2. Ông Dương Văn B. Vắng mặt.
3. Bà Phùng Thị N1. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm T, xã T, Thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
Người đại diện theo ủy quyền của ông B và bà N1: Ông Phùng Tấn T2, bà Trần Thị Kim C. Vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của ông B và bà N1: Luật sư Trần Thị Kim C. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: B T, phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh
- Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai người khởi kiện trình bày:
Ngày 16/8/2019, ông Trương Quốc H và bà Nguyễn Phương L có nhận chuyển nhượng nhà đất từ ông Dương Văn B và bà Phùng Thị N1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003158, hợp đồng đã được công chứng theo quy định, đối với căn nhà tại số A T, Phường E, Quận E. Theo thỏa thuận, bên mua được ủy quyền thực hiện toàn bộ thủ tục đăng ký biến động sang tên nhà đất, ông H đã thanh toán tiền theo đúng thỏa thuận và nhận bàn giao nhà từ tháng 8/2019 đến nay.
Vợ chồng ông H đã nộp hồ sơ đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ. Tháng 9/2019, ông H nhận được Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 ngày 23/8/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ do căn nhà tại A T đang thuộc đối tượng bị cưỡng chế theo Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E.
Sau khi nhận Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5, ông H đã liên hệ E và được biết Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 về xử phạt vi phạm hành
chính và Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Tại Biên bản kiểm tra công trình xây dựng số 075/BB-KT ngày 29/12/2016 của Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, thể hiện công trình hiện hữu đang sử dụng là 09 tầng + hầm + lửng + sân thượng + buồng kỹ thuật thang máy, phần cơi nới 11 tầng + hầm + lửng, tại thời điểm này công trình đã hoàn thành phần thô tầng 11 và sân thượng, chỉ hoàn thiện nội thất và sử dụng cho đến nay. Cách tính số tầng tại Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 và Biên bản kiểm tra công trình xây dựng số 075/BB-KT là không giống nhau. Tại Biên bản vi phạm hành chính ngày 16/7/2018 đã tính cả các tầng xây dựng trước ngày 29/12/2016, tầng lửng và sân thượng (tầng 13) là một tầng riêng biệt nên xác định số tầng vi phạm là 05 tầng là không đúng.
Người khởi kiện xác định công trình cơi nới tại nhà số A T, Phường E, Quận E đã hoàn thành từ năm 2016, đưa vào sử dụng đầu năm 2017, thuộc trường hợp quy định tại Khoản 9 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính Phủ. Ngày 20/7/2018, Chủ tịch E ban hành quyết định 3007/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính áp dụng quy định tại điểm c Khoản 5 Điều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 là không đúng quy định.
Đồng thời, công trình bị xử phạt được xây dựng trước 15/01/2018, phù hợp quy hoạch về chiều cao tối đa 15 - 20 tầng tại Khoản 3 Điều 1 Quyết định số 5697/QĐ-UBND ngày 07/12/2007 của Ủy ban nhân dân Quận E về phê duyệt Đồ án điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 khu dân cư Liên phường 5,6,10; đáp ứng đủ 06 điều kiện tồn tại Khoản 2 Điều 79 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP và Điều 6 Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018:
- Hành vi vi phạm xảy ra từ ngày 04/01/2008 và đã kết thúc trước ngày 15/01/2018 nhưng sau ngày 15/01/2018 mới được người có thẩm quyền phát hiện hoặc đã được phát hiện trước ngày 15/01/2018 và đã có một trong các văn bản sau đây: Biên bản hành chính, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc quyết định áp dụng bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả;
- Không vi phạm chỉ giới xây dựng;
- Không ảnh hưởng các công trình lân cận (theo Kết luận giám định công trình do Công ty K lập);
- Không có tranh chấp;
- Xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp;
- Nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Đồng thời, hành vi vi phạm xây dựng tại nhà số A T, Phường E, Quận E đã hoàn thành trước ngày 15/01/2018 và thuộc trường hợp theo Khoản 1 và Khoản 2
Điều 6 Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 nên được miễn áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định số 121/2013/NĐ-CP.
Do đó, Quyết định 3007/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính là không đúng quy định, đồng thời công trình vi phạm thuộc trường hợp đủ điều kiện tồn tại. Do đó, Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 cũng không phù hợp quy định.
Về Văn bản số 2181/VPĐK.CN5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H. Giao dịch sang nhượng giữa ông Dương Văn B và bà Phùng Thị N1 với ông Trương Quốc H là phù hợp quy định, đã được công chứng nên có hiệu lực theo quy định tại Văn bản số 04/VBHN-BTNMT ngày 04/5/2021 của Bộ T4 về hợp nhất nghị định hướng dẫn Luật đất đai; Điều 116, khoản 2 Điều 129, Khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Văn phòng đăng ký đất đai từ chối và hoàn trả hồ sơ đăng ký cập nhật biến động sang tên A T, Phường E, Quận E là trái quy định của pháp luật.
Ông H khởi kiện yêu cầu hủy các quyết định:
- - Hủy Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E;
- - Hủy Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E;
- - Hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CN5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân E thực hiện nhiệm vụ công vụ trong việc giải quyết các thủ tục hành chính để công nhận công trình tại nhà số A T, Phường E, Quận E đủ điều kiện tồn tại và được miễn áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp; buộc Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H thực hiện nhiệm vụ công vụ giải quyết thủ tục đăng ký biến động sang tên quyền sử dụng đất cho ông Trương Quốc H và bà Nguyễn Phương L đối với nhà số A T, Phường E, Quận E theo quy định của pháp luật.
* Tại Văn bản số 1605/UBND-QLĐT ngày 31/12/2021, người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E trình bày:
Theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H03093 ngày 06 tháng 11 năm 2006 của Ủy ban nhân dân Quận E: Thời điểm tháng 4 năm 2009, công trình A T, Phường E, Quận E thuộc sở hữu của Công ty TNHH K1; loại công trình là nhà ở kiên cố (căn cứ Giấy phép xây dựng số 59/GPXD-UBND do E cấp ngày 22/01/2008); có quy mô 07 tầng + hầm + lửng + sân thượng. Tổng diện tích sàn xây dựng: 2216,85m². Ngày 24 tháng 8 năm 2011, căn nhà trên được chuyển nhượng cho ông Dương Văn B và bà Phùng Thị N1; không thay đổi về quy mô, diện tích.
Hiện trạng công trình nhà số A đường T, Phường E, Quận E có quy mô 13 tầng, không phù hợp với quy mô được công nhận trong chủ quyền.
Căn cứ Khoản 5, Điều 15, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ:
“5. Phạt tiền đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng như sau:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử - văn hóa hoặc xây dựng công trình khác không thuộc các trường hợp quy định tại điểm b, điểm c khoản này;
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với xây dựng nhà ở riêng lẻ tại đô thị;
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với xây dựng công trình có yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng.”
Căn cứ Khoản 11, Điều 15, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ”
“11. Biện pháp khắc phục hậu quả:
- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;
- Buộc bổ sung phương tiện che chắn theo quy định và khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với hành vi quy định tại khoản 1 Điều này;
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu và bồi thường thiệt hại đối với hành vi quy định tại khoản 3 Điều này;
- Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm đối với hành vi quy định tại khoản 2, khoản 4, khoản 5 (mà hành vi vi phạm đã kết thúc), khoản 6 và khoản 7 Điều này.”
Căn cứ Điều 6 Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24 tháng 4 năm 2018 về áp dụng quy định chuyển tiếp tại Điều 79 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP:
“1. Hành vi xây dựng sai nội dung giấy phép xây dựng; xây dựng không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng; xây dựng sai thiết kế được phê duyệt, sai quy hoạch xây dựng được phê duyệt hoặc thiết kế đô thị được phê duyệt đối với trường hợp được miễn giấy phép xây dựng, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính, còn bị áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp theo quy định tại khoản 9 Điều 13 Nghị định 121/2013/NĐ-CP nếu đáp ứng đủ 6 điều kiện sau đây:
- Hành vi vi phạm xảy ra từ ngày 04/01/2008 và đã kết thúc trước ngày 15/01/2018 nhưng sau ngày 15/01/2018 mới được người có thẩm quyền phát hiện
hoặc đã được phát hiện trước ngày 15/01/2018 và đã có một trong các văn bản sau đây: Biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả hoặc quyết định áp dụng bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả;
- Không vi phạm chỉ giới xây dựng;
- Không ảnh hưởng các công trình lân cận;
- Không có tranh chấp;
- Xây dựng trên đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp;
- Nay phù hợp với quy hoạch xây dựng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
4. Hành vi vi phạm mà đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b, c, d và đ khoản 1, nhưng không đáp ứng điều kiện quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, thì xử lý như sau:
- Hành vi vi phạm được người có thẩm quyền phát hiện kể từ ngày 15/01/2018 thì xử phạt theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Trường hợp Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP có mức phạt đối với hành vi đó cao hơn mức phạt quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP thì áp dụng mức phạt quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP và áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm theo quy định tại điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Trường hợp hết thời hiệu xử phạt thì không ra quyết định xử phạt hành chính nhưng vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm.”
Căn cứ Quyết định số 5697/QĐ-UBND ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Ủy ban nhân dân Quận E về phê duyệt Đồ án điều chỉnh quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị tỷ lệ 1/2000 khu dân cư L phường E, 6, 10: căn nhà số A đường T, Phường E, Quận E có quy hoạch là đất dân cư hiện hữu. Tầng cao trung bình: 3,8 - 4 tầng.
Căn cứ quy định tại Quyết định số 45/2009/QD-UBND ngày 03 tháng 7 năm 2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố H: quy mô xây dựng tối đa đối với công trình nhà ở tại địa chỉ A đường T, Phường E, Quận E (tại thời điểm trước ngày 15 tháng 01 năm 2018) là hầm, 07 tầng, có lửng và mái che thang tại sân thượng. Do đó, phần diện tích tự cơi nới không được công nhận trong chủ quyền của căn nhà A đường T, Phường E, Quận E là diện tích không phù hợp quy hoạch xây dựng.
Ngày 20 tháng 7 năm 2018, Ủy ban nhân dân Quận E ban hành Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 3007/QĐ-XPVPHC đối với hành vi vi phạm hành chính: Chủ đầu tư tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng công trình có yêu cầu phải
lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng, quy định tại Khoản 3, Điều 4 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP. Biện pháp khắc phục hậu quả: Căn cứ điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, buộc Bà Phùng Thị N1 - Chủ đầu tư xây dựng công trình phải tự phá dỡ công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng đô thị không có giấy phép xây dựng trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Mọi chi phí tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do bà Phùng Thị N1 chi trả.
Quá thời hạn 60 ngày, chủ đầu tư xây dựng công trình không tự phá dỡ công trình. Ngày 14 tháng 11 năm 2018, Ủy ban nhân dân Quận E ban hành Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 5224/QĐ-CCXP, trong đó buộc tháo dỡ phần diện tích cơi nới tại tầng 9, 10, 11, 12, 13 công trình số A đường T, Phường E, Quận E.
Ủy ban nhân dân Quận E ban hành Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20 tháng 7 năm 2018 và Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 5224/QĐ-CCXP ngày 14 tháng 11 năm 2018 là phù hợp với quy định.
* Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H không có văn bản trình bày ý kiến.
* Ông Nguyễn Đức V là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H có văn bản ý kiến gửi Tòa án đề nghị không chấp nhận yêu cầu của ông Trương Quốc H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Văn B và bà Phùng Thị N1 có người đại diện theo ủy quyền là ông Phùng Tấn T2 và bà Trần Thị Kim C trình bày: Ông Dương Văn B và bà Phùng Thị N1 cư trú tại Thái Nguyên nên không biết thông tin ông H khởi kiện Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018, Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E và Văn bản số 2181/VPĐK.CN5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H. Ông B và bà N1 biết về vụ án hành chính này khi nhận được thông báo đối thoại của Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện vụ án hành chính này của ông Trương Quốc H, ông B và bà N1 thống nhất. Nếu yêu cầu khởi kiện của ông H được Tòa án chấp nhận, ông B, bà N1 và ông H sẽ tiếp tục thực hiện thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/8/2019, ông H thanh toán cho ông B và bà N1 số tiền còn lại là 5.000.000.000 đồng; trường hợp, yêu cầu của ông H không được chấp nhận hai bên sẽ giải quyết quyền và nghĩa vụ của hợp đồng theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Phương L trình bày: Thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H.
Tại Bản án sơ thẩm số 1911/2023/HC-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 117, Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Luật Nhà ở;
Căn cứ Luật Công chứng;
Căn cứ Nghị định 121/2017/NĐ-CP ngày 10/10/2013 của Chính phủ;
Căn cứ Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ;
Căn cứ Thông tư 03/2018/TT-BXD ngày 24/4/2018 của Bộ X;
Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ T4;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H gồm:
- - Hủy Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E;
- - Hủy Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E;
- - Hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CN5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân E và Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 10/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số 7987/QĐ-VKS-HC kháng nghị phúc thẩm đối với toàn bộ nội dung Bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện có người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng quy định pháp luật, sau khi xét xử sơ thẩm người bị kiện đã đồng ý với Bản án sơ
thẩm, không kháng cáo, điều đó chứng tỏ người bị kiện đã thừa nhận những vi phạm, sai lầm trong việc ban hành các Quyết định hành chính bị kiện. Do đó, đề nghị HĐXX bác kháng nghị, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bị kiện có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày: Đối với việc phía Ủy ban nhân dân Quận E không kháng cáo, bởi vì phía Ủy ban nhân dân Quận E đã nhận được kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung kháng nghị phù hợp với quan điểm kháng cáo của Ủy ban nhân dân Quận E nên việc kháng cáo là không cần thiết. Vì thống nhất với quan điểm trong quyết định kháng nghị, do đó đề nghị HĐXX chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị HĐXX chấp nhận. Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
Về nội dung kháng nghị: Đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, sửa Bản án sơ thẩm theo hướng hủy, đình chỉ giải quyết đối với phần bản án sơ thẩm nhận định và tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H về hủy QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 và QĐ về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch E; đồng thời bác yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H về việc yêu cầu hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 ngày 23/8/2019 của Chi nhánh văn phòng Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định nên hợp lệ nên có cơ sở chấp nhận.
[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
[3.1] Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 và Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E
Nhà, đất số A đường T, Phường E, Quận E được E cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 167176, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03093 ngày 06/11/2006 cho bà Trần Thị H1.
Ngày 11/10/2007, Trung tâm T5 và Đăng ký nhà đất đã đăng ký biến động thay đổi chủ sở hữu cho Công ty TNHH K1 (theo Hợp đồng số 035966 ngày 08/10/2007) trên trang IV giấy chứng nhận.
Ngày 29/4/2009, Trung tâm T5 và Đăng ký nhà đất đã đăng ký thay đổi tài sản gắn liền với đất với nội dung: Tổng diện tích sàn xây dựng: 2216,85m², DTXD: 227,57m², kết cấu nhà: tường gạch, sàn BTCT, mái BTCT, số tầng: 07 tầng + hầm + lửng + sân thượng (căn cứ Giấy phép xây dựng số 59/GPXD-UBND do Ủy ban nhân dân Quận E cấp ngày 22/01/2008 và Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng ngày 20/3/2009 do Công ty TNHH T6, Công ty TNHH X1, Doanh nghiệp tư nhân khách sạn H3 và Công ty TNHH K1 cùng lập).
Ngày 06/7/2009, Phòng T7 đã đăng ký biến động thay đổi chủ sở hữu cho ông Vũ Đức N2 - bà Vũ Thị C1 (theo Hợp đồng số 020173/HĐCN ngày 28/5/2009) trên trang bổ sung giấy chứng nhận.
Ngày 24/8/2011, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Quận E đã đăng ký biến động thay đổi chủ sở hữu cho ông Dương Văn B - bà Phùng Thị N1 trên trang bổ sung giấy chứng nhận.
Ngày 20/7/2018, Chủ tịch E ban hành QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 3007/QĐ-XPVPHC đối với bà Phùng Thị N1 đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Chủ đầu tư tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng công trình có yêu cầu phải lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng hoặc lập dự án đầu tư xây dựng, quy định tại Khoản 3, Điều 4 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP; Biện pháp khắc phục hậu quả: Căn cứ điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP, buộc Bà Phùng Thị N1 - Chủ đầu tư xây dựng công trình phải tự phá dỡ công trình xây dựng vi phạm trật tự xây dựng đô thị không có giấy phép xây dựng trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Mọi chi phí tổ chức thi hành biện pháp khắc phục hậu quả do bà Phùng Thị N1 chi trả.
Ngày 14/11/2018, Chủ tịch E ban hành Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 5224/QĐ-CCXP đối với bà Phùng Thị N1 có nội dung buộc buộc tháo dỡ phần diện tích cơi nới tại tầng 9, 10, 11, 12, 13 công trình số A đường T, Phường E, Quận E.
Ngày 16/8/2019, ông Dương Văn B, bà Phùng Thị N1 và ông Trương Quốc H, bà Nguyễn Phương L ký HĐ chuyển nhượng QSDĐ do VPCC Nguyễn Thị Minh H2 công chứng số 003158 có nội dung ông B, bà N1 chuyển nhượng cho ông H, bà L căn nhà số A T đã được cập nhận biến động với tổng diện tích sàn xây dựng là 2.216,85m² (7 tầng + hầm + lửng + sân thượng) theo Giấy phép xây dựng số 59/GPXD-UBND do E cấp ngày 22/01/2008 và Biên bản nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng ngày 20/3/2009 do Công ty TNHH T6, Công ty TNHH X1, Doanh nghiệp tư nhân khách sạn H3 và Công ty TNHH K1 cùng lập. Trong quá trình nhận chuyển nhượng, ông H, bà L biết và buộc phải biết hiện trạng thực tế của căn nhà (13 tầng) có khác biệt lớn so với giấy chứng nhận (7 tầng + hầm + lửng + sân thượng). Như vậy, ông H, bà L thuộc trường hợp chiếm hữu không ngay tình theo quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật tố tụng hành chính năm 2015: “2. Quyết định hành chính bị kiện là quyết định quy định tại khoản 1 Điều này mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Căn cứ Điều 5 Luật tố tụng hành chính năm 2015 về Quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của Luật này”.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 115 Luật tố tụng hành chính năm 2015 về quyền khởi kiện vụ án: “1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó”.
Xét thấy, QĐ xử phạt vi phạm hành chính số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2008 của Chủ tịch E xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Phùng Thị N1 và QĐ cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch E cưỡng chế buộc bà Phùng Thị N1 phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, hai QĐ hành chính này chỉ làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phùng Thị N1. Do đó, chỉ có bà Phùng Thị N1 mới có quyền khởi kiện đối với hai QĐ hành chính này. Như vậy, ông H không có quyền khởi kiện yêu cầu hủy QĐ số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2008 và QĐ cưỡng chế số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch E nhưng Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý giải quyết, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, tuyên hủy QĐ số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2008 và QĐ cưỡng chế số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch E là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Từ các nhận định nêu trên, HĐXX có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H về việc yêu cầu hủy Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 và Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E.
[3.2] Đối với yêu cầu hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 ngày 23/8/2019 của Chi nhánh văn phòng Đ
Sau khi ký HĐ công chứng số 003158 do VPCC Nguyễn Thị Minh H2 công chứng ngày 16/8/2019, ông H nộp hồ sơ đăng ký biến động đất, tài sản gắn liền với đất đối với nhà, đất số A T, Phường E, Quận E tại Chi nhánh văn phòng Đ.
Ngày 23/8/2019, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký biến động của ông H với lý do căn nhà tại số A T đang thuộc đối tượng bị cưỡng chế theo QĐ số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch E.
Căn cứ Công văn 1227/TNMT-VPĐK năm 2013 về cấp giấy chứng nhận đối với trường hợp chuyển nhượng nhà có hiện trạng không đúng so với giấy tờ chứng minh sở hữu sau ngày 01/7/2006 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H ban hành ngày 12/3/2013 có nội dung:
“1. Đối với các trường hợp chuyển nhượng từ ngày 01/07/2006 đến ngày 01/05/2009 thì xem xét cấp giấy chứng nhận cho người mua với các điều kiện:
- - Hiện trạng nhà ở, công trình phải phù hợp quy hoạch; trường hợp có vi phạm xây dựng thì phải được xử lý trước khi xem xét cấp giấy chứng nhận.
- - Không có tranh chấp.
- - Bên bán và bên mua đã biết rõ hiện trạng nhà ở, công trình xây dựng tại thời điểm giao dịch.
2. Các trường hợp chuyển nhượng sau ngày 01/05/2009 đề nghị thực hiện theo đúng quy định pháp luật (chủ cũ thực hiện thủ tục hoàn thành công trình, chứng nhận bổ sung sở hữu sau đó mới chuyển nhượng cho chủ mới)”.
Xét thấy, tại thời điểm ông H nộp hồ sơ đăng ký cập nhật biến động, căn nhà số A T, Phường E, Quận E đã có thay đổi so với lần đăng ký biến động ngày 29/4/2009 từ 7 tầng + hầm + lửng + sân thượng thành 13 tầng + lửng + sân thượng. Ông H không cung cấp được giấy tờ hợp lệ đối với phần diện tích tăng thêm 05 tầng với tổng diện tích sàn 988,51m², đồng thời chủ cũ là bà Phùng Thị N1 chưa chấp hành Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 và Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E. Do đó, Chi nhánh văn phòng Đ ban hành Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 hoàn trả hồ sơ đăng ký biến động của ông H đối với căn nhà tại số A T, Phường E, Quận E là phù hợp với quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông H, tuyên hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ các nhận định nêu trên, HĐXX có cơ sở chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H về việc yêu cầu hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CNQ5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H.
[4] Về án phí hành chính sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử sụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Hủy một phần bản án sơ thẩm số 1911/2023/HC-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H về việc:
- - Hủy Quyết định số 3007/QĐ-XPVPHC ngày 20/7/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E;
- - Hủy Quyết định số 5224/QĐ-CCXP ngày 14/11/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận E;
3. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 1911/2023/HC-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
Không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H về việc: Hủy Văn bản số 2181/VPĐK.CN5 ngày 23/8/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
5. Án phí hành chính sơ thẩm: Ông Trương Quốc H phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà Trương Quốc H đã nộp theo Biên lai thu số
AA/2019/0093115 ngày 27/11/2020 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trương Quốc H đã nộp đủ tiền án phí hành chính sơ thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thúy C2 - N |
Vũ Đức T3 |
Nơi nhận:
- - Toà án nhân dân Tối cao;
- - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
- - Toà án nhân dân TP.HCM;
- - VKSND TP.HCM;
- - Cục THADS TP.HCM;
- - Các đương sự;
- - Lưu HS, VP, ĐTM
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
Bản án số 771/2024/HC-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính
- Số bản án: 771/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Hủy một phần bản án sơ thẩm số 1911/2023/HC-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Trương Quốc H. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 1911/2023/HC-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
