Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC YÊN

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-7-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Khiếu

Bà Vũ Thị Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Ngọc Triều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 145/2024/TLST–HNGĐ ngày 21-6-2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Thạch Thị Đ – Sinh năm 1999
  2. Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (vắng mặt, có lý do)

  3. Bị đơn: anh Nguyễn Văn L – Sinh năm 1995
  4. Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái (vắng mặt, có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21-6-2024, các lời khai tiếp theo nguyên đơn Thạch Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Văn Liên kết h vào ngày 27-8-2019 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh L không chăm lo gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm không còn, chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: chị và anh L có 01 con là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 25-6-2020, hiện đang ở cùng anh L. Sau khi ly hôn, chị Đ có yêu cầu anh L là người trực tiếp nuôi con, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại lời khai bị đơn Nguyễn Văn L nhất trí về thời gian, địa điểm, điều kiện kết hôn của vợ chồng như chị Đ trình bày. Quá trình chung sống thực tế có mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm và sống ly thân từ năm 2022. Nay chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: anh và chị Đ có 01 con là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 25-6-2020. Sau khi ly hôn anh có yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: anh L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, đương sự có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, do đó vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: chị Thạch Thị Đ và anh Nguyễn Văn L có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Yên Bái theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 27 tháng 8 năm 2013. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: qua lời khai của chị Đ, anh L thừa nhận quá trình chung sống thực tế vợ chồng có mâu thuẫn, mâu thuẫn kéo dài không thể khắc phục được, vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 không còn quan tâm đến nhau. Theo nội dung đơn đề nghị xét xử vắng mặt, các đương sự đều có yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.

Xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn, có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: chị Đ và anh L có 01 con là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 25-6-2020, hiện đang ở cùng anh L. Tại lời khai các đương sự đều có yêu cầu sau ly hôn, anh L trực tiếp nuôi dưỡng con.

Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần giao con cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng, là phù hợp.

Anh L không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Thạch Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.
  2. Về con chung: giao cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 25-6-2020 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chị Thạch Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về án phí: chị Thạch Thị Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/0001874 ngày 21-6-2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị Đ đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh YB;
  • - VKSND H. Lục Yên;
  • - THADS H. Lục Yên;
  • - UBND xã Trung Tâm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đăng Ninh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị Đ ly hôn anh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger