Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

Tỉnh Hậu Giang

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/DS-ST

Ngày: 31/7/2024

V/v “Tranh chấp quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Ông Võ Văn Trường

2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh

Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 61/2024/QĐ-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1990. Có mặt

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, Hậu Giang.

Trú tại: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1974. Vắng mặt

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, Hậu Giang.

Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1974. Có mặt

Địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện C, Hậu Giang.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng N

Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc.

Trụ sở: số B L, phường T, quận B, TP Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền tố tụng: Ông Võ Thanh H – Giám đốc chi nhánh C2.

Có yêu cầu vắng mặt.

Địa chỉ: ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn được cha là ông Nguyễn Văn C tặng cho phần đất năm 2010, diện tích 10.400 m². Chiều ngang giáp kênh thủy lợi 32m. Một bên giáp với bà Q và ông C1 có trụ ranh ổn định. Bên còn lại giáp với bà Nguyễn Ngọc T1 và ông Nguyễn Văn T có ranh chưa ổn định nên không kéo hàng rào được. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Ngọc T1 trả lại phần đất tranh chấp chiều ngang 0,3m, chiều dài khoản 200m. Do đất bà T1, ông T là đất dây giáp liền với nhau. Đối với phần nguyên đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn T do đã thỏa thuận được nên nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa nguyên đơn khởi kiện bà Nguyễn Ngọc T1 yêu cầu trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 42,7 m² trên phần đất tranh chấp hiện trạng là mương không có cây trồng và vật kiến trúc. Nguyên đơn thống nhất kết quả đo đạc, thỏa thuận giá phần đất tranh chấp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nguyên đơn đang giữ, không cầm cố, thế chấp.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Ngọc T1 trình bày:

Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đất của bị đơn có được là của mẹ ruột bị đơn là bà Nguyễn Thị L1 cho năm 2017, giấy đỏ bị đơn đang thế chấp tại ngân hàng N để vay 100.000.000 đồng. Bị đơn sử dụng đúng phần đất của mình, không lấn ranh. Bị đơn thống nhất kết qủa đo đạc, định giá.

Quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn Văn T trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đất của bị đơn có được là của cha, mẹ cho. Bị đơn sử dụng đúng phần đất của mình, không lấn ranh. Bị đơn thống nhất kết qủa đo đạc, định giá.

Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N trình bày: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà T1 và ông L diện tích nhỏ, khách hàng đóng lãi đúng kỳ hẹn nên Ngân hàng không có yêu cầu đối với vụ án này. Nếu phát sinh tranh chấp Ngân hàng sẽ khởi kiện thành vụ án khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật; nguyên đơn, bị đơn chấp hành tốt quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành tốt quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí. Đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Minh L đối với bị đơn Nguyễn Ngọc T1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn Nguyễn Văn T do nguyên đơn rút yêu cầu. Về án phí, chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Nguyễn Minh L khởi kiện bị đơn Nguyễn Ngọc T1 yêu cầu trả lại phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp Đ, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Xét đây là vụ án dân sự, tranh chấp quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Nguyễn Văn T được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vắng mặt đương sự theo quy định.

[3] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu trả lại phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế 42,7 m². Nguồn gốc đất nguyên đơn nhận thừa kế từ cha, mẹ. Theo mảnh trích đo địa chính ngày 19/10/2023 phần đất không tranh chấp của anh L có diện tích 7.429.8m², phần đất được cấp theo giấy thửa 938 có diện tích 7550m² như vậy chưa tính phần tranh chấp thì đất anh L thiếu 128,2m². Nguồn gốc đất của bà Nguyễn Ngọc T1 thửa 935 theo giấy chứng nhận được cấp có diện tích 3637m²; theo mảnh trích đo địa chính có diện tích 3532,8m2 thiếu 104,2m². Xét thấy phần đất của nguyên đơn và bị đơn chưa tính phần tranh chấp có diện tích 42,7 m đều thiếu so với giấy chứng nhận QSD đất; đồng thời phía bị đơn đã sử dụng ổn định từ lúc được cha, mẹ cho đất đến nay, không có sự thay đổi nên không có căn cứ cho rằng đất nguyên đơn thiếu là do bị đơn lấn ranh. Đồng thời, nguyên đơn không trực tiếp canh tác đất mà giao lại cho các anh, chị canh tác. Việc đất được cấp năm 1993 thì diện tích thực tế với diện tích được cấp trên giấy có sai lệch về số liệu là phù hợp với thời điểm cấp đại trà năm 1993. Mặt khác hiện trạng đất đã thay đổi do có dự án lộ nông thôn đi qua và đất của nguyên đơn giáp sông lớn nên diện tích giảm do sạt lở theo thực tế sử dụng còn đất của bị đơn cũng bị giảm nhưng bị đơn đất nằm ở giữa nên diện tích không thay đổi mà bị giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ những phân tích trên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Minh L đối với bị đơn Nguyễn Văn T do có nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện.

[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về chi phí tố tụng, đo đạc, thẩm định, trích lục hồ sơ: Tổng chi phí 6.600.000 đồng nguyên đơn đã nộp xong.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì nguyên đơn Nguyễn Minh L phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 171, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Minh L đối với bị đơn Nguyễn Ngọc Trinh T1 về việc đòi phần đất 42,7 m².
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Minh L đối với bị đơn Nguyễn Văn T.
  3. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí 6.600.000 đồng (Sáu triệu sáu trăm ngàn đồng) nguyên đơn đã nộp xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng nguyên đơn Nguyễn Minh L đã nộp theo phiếu thu số 0011057 ngày 13 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Nguyên đơn đã nộp xong.
  5. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CC.THADS huyện Châu Thành;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quốc Việt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, Tỉnh Hậu Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 77/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, Tỉnh Hậu Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ranh đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger