TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024. | NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thùy Đông; Bà Nguyễn Thị Bích Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 09/9/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn P (tên gọi khác: Không), sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn L và bà Chu Thị S. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ là Nguyễn Thị N. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án: Ngày 31/8/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 08/8/2013 Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Ngày 11/3/2014 Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép ma túy.
Ngày 10/9/2015 Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 29/3/2016 Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Ngày 14/12/2021 Chủ tịch UBND xã H, huyện T ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1957. Trú tại: Số E Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 27/6/2024 Trần Văn P đi xe ôm của một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, tuổi, địa chỉ) từ nhà ở tôn T, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên đến khu vực Bến xe khách H, đường N, thành phố H tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, P đi bộ về phía đường N, phường H thì nhìn thấy một người đàn ông đang đứng một mình có dáng giống người nghiện (không biết tên, tuổi, địa chỉ), P lại gần hỏi thì biết người này có bán ma túy, P đưa cho người đàn ông này số tiền 200.000 đồng để mua ma túy Heroine. Người đàn ông này nhận tiền và đưa cho P 01 gói nhỏ bọc bằng giấy màu trắng, bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục và bột, P nhận biết đó là H nên P cầm gói nhỏ bọc bằng giấy cất vào túi áo mưa phía trước đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, P đi bộ đến đường H, phường H thì gặp tổ công tác Công an thành phố H kiểm tra bắt quả tang, biết bản thân vi phạm nên P tự giác giao nộp gói ma túy cho lực lượng công an và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Kết luận giám định số 495/KL-KTHS(MT) ngày 30/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong có khối lượng 0,244g là ma túy loại Heroine.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gửi giám định của phòng K Công an tỉnh H ghi số 495/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,236g ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 áo mưa màu xanh đen đã cũ.
Quá trình điều tra, Trần Văn P đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với vật chứng thu giữ, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.
Tại bản Cáo trạng số 73/CT-VKS-TPHY ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố Trần Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 495/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,236g ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng gói ma túy; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 áo mưa màu xanh đen đã cũ. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 27/6/2024 tại khu vực đường H, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên, Trần Văn P có hành vi tàng trữ trái phép 0,244g Heroine để sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an phường M, thành phố H phát hiện bắt giữ quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 31/8/2022 bị cáo Trần Văn P bị Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép ma túy, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thật thà, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng H1 huy chương kháng chiến hạng nhì, mẹ đẻ được tặng Bằng khen đều trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo P là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, đã 03 lần bị công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Tại bản án số 18 ngày 29/03/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 14/12/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, huyện T ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường. Nay bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất ma túy khi chưa được xóa án tích. Chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật. Chính vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 495/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,236 gam ma túy loại Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
01 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật giám định đều dùng gói đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 áo mưa màu xanh đen đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo. Bị cáo lần đầu tiên mua ma túy, không biết tên tuổi thật, địa chỉ cụ thể, việc mua ma túy không có ai chứng kiến sự việc. Do đó Cơ quan điều tra không xác định được người đàn ông đã bán ma túy là ai nên không có căn cứ để xác minh, xử lý là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Xử phạt: Bị cáo Trần Văn P 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/6/2024.
[3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 495/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,236 gam ma túy loại Heroine; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 áo mưa màu xanh đen đã cũ.
(Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 62 ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát thành phố H)
[4] Về án phí: Bị cáo Trần Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Kim Anh |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: P tàng trữ ma túy
