TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS - ST Ngày 30 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh M
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Hồng P
Ông Bùi Văn T
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt A - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Lưu Hải D - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 8 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Dương Văn C, sinh năm 1996 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Đ (đã chết) và bà Trần Thị T; có vợ là Đỗ Thị T1 và có 01 con, sinh năm 2021;
- Ngày 08/9/2014, Dương Văn C bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 122 số tiền 2.000.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản, đến nay chưa nộp phạt.
- Ngày 23/7/2015, Dương Văn C bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 21 số tiền 2.000.000 đồng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đến nay chưa nộp phạt.
- Tại Bản án số 40/HSST ngày 25/11/2015, Dương Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (đã được xóa án tích).
- Tại Bản án số 09/HSST ngày 09/2/2018, Dương Văn C bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (đã được xóa án tích).
- Nghiêm Xuân T2, sinh năm 1998 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Xuân B và bà Hà Thị T3; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Theo Quyết định số 631 ngày 08/6/2012, UBND huyện Y đưa Nghiêm Xuân T2 vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ ngày 12/6/2012, đến ngày 12/12/2012 thì chấp hành xong.
- Tại Bản án số 40/HSST ngày 25/11/2015, Nghiêm Xuân T2 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, (đã được xóa án tích).
- Tại Bản án số 09/HSST ngày 09/02/2018, Nghiêm Xuân T2 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (đã được xóa án tích).
- Nghiêm Xuân T4, sinh năm 1996 tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Xuân L và bà Nguyễn Thị P; có vợ là Lò Thị N và có 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 26/HSST ngày 03/06/2021, Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt Dương Văn C 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 08/01/2022 chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương (chưa xóa án tích).
Tiền sự: Không:
Nhân thân:
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y “có mặt”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y “có mặt”.
Tại Bản án số 59/HSST ngày 13/12/2013, Nghiêm Xuân T4 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 06 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Sau đó, T4 có đơn kháng cáo đối với Bản án sơ thẩm trên. Tại Bản án số 10/HSPT ngày 27/02/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm, ngày 31/8/2015 T4 đã chấp hành xong hình phạt (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y “có mặt”.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Bảo N1, sinh năm 1995; Địa chỉ: TDP B T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
- Anh Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
- Ông Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1962; Địa chỉ: TDP C T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
- Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1992; Địa chỉ: TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.
* Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962 “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Dương Văn C, sinh năm 1996 trú tại TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc cùng với Nghiêm Xuân T2, sinh năm 1998 trú tại TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc đang ở phòng trọ của C thuộc TDP 3 T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc thì C rủ T2 cùng sử ma túy đá, T2 đồng ý. Lúc này, T2 gọi điện thoại cho Dương Văn T6, sinh năm 1982 ở TDP 3 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để hỏi mua chất ma túy đá nhưng T6 không nghe máy, do đó không mua được ma túy. Đến gần 24 giờ cùng ngày, do không mua được ma túy đá nên C sử dụng số điện thoại 0869.211.xxx gọi đến số điện thoại 0376.481.xxx của nam giới tên V (không xác định được lai lịch) để hỏi mua 02 chỉ ma túy ke và 03 viên ma túy kẹo của V, V đồng ý bán số ma túy trên cho C với giá là 2.000.000 đồng và hẹn C đến khu vực thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi mua, bán ma túy. Sau đó, C cùng T2 đi taxi từ phòng trọ của C đến địa điểm như đã hẹn với V. Đến nơi, C xuống xe taxi gặp V. Tại đây, C mua được 03 viên ma túy Kẹo và 01 túi ma túy Ke với giá 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cùng T2 đi xe taxi về phòng trọ của C tại TDP 3 T, thị trấn Y, huyện Y. Khi đi đến khu vực thị trấn Y, huyện Y thì T2 nhận được tin nhắn qua ứng dụng Zalo của T6, nên T2 nhắn tin hỏi mua của T6 350.000 đồng tiền ma túy đá thì T6 đồng ý và hẹn đến khu vực gần nhà T6 thuộc TDP C Đ, thị trấn Y để trao đổi, mua bán ma túy. Sau đó, C đưa cho T2 số tiền 400.000 đồng để mua ma túy đá của T6 rồi cả 2 cùng nhau đi xe taxi đến địa điểm như đã hẹn với T6. Đến nơi, T2 gặp T6 và mua được của T6 350.000 đồng tiền ma túy đá. Sau khi mua được ma túy đá, T2 đưa cho C số ma túy đá vừa mua được của T6 rồi cùng C về phòng trọ của C tại TDP 3 T, thị trấn Y, huyện Y để cùng nhau sử dụng ma túy đá. Sau khi về đến phòng trọ, C gọi điện thoại qua ứng dụng Messenger cho Nguyễn Bảo N1, sinh năm 1995 trú tại TDP 2 T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc rủ N1 đến phòng trọ của C cùng sử dụng ma túy đá, N1 đồng ý. Một lúc sau, Nguyễn Bảo N1 đến phòng trọ của C rồi cùng sử dụng ma túy đá với C và T2 bằng cách sử dụng 01 coóng thủy tinh của C có sẵn tại đây rồi tự cho ma túy đá vào cóong hơ lửa và hít. Quá trình sử dụng ma túy thì N1 tự sử dụng và không cần ai hỗ trợ hay hỗ trợ ai việc gì trong việc sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy, Dương Văn C đã vứt bỏ chiếc cóong trên do trong quá trình sử dụng đã bị vỡ (C không nhớ vứt ở đâu), rồi C và T2 ngủ tại phòng trọ, còn N1 về nhà mình tại tổ dân phố B T, thị trấn Y, huyện Y để ngủ.
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, C và T2 ngủ dậy. Lúc này, C lấy ma túy ke và 03 viên ma túy kẹo từ trong người ra rồi chia cho T2 01 viên ma túy kẹo để T2 sử dụng, bản thân C cũng sử dụng hết 01 viên ma túy kẹo. Sau khi sử dụng ma túy kẹo, C bảo T2 đi vào bếp lấy đĩa sứ để sử dụng ma túy ke, T2 đồng ý rồi vào bếp cầm đĩa sứ mang vào phòng ngủ của C đặt xuống thảm. Tại đây, C đổ ma túy ke ra đĩa sứ. Sau đó, T2 lấy bật lửa và 01 thẻ cứng màu đen do C đã chuẩn bị từ trước để “xào ke”. Quá trình xào ke, T2 nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho Nghiêm Xuân T4, sinh năm 1996 trú tại TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc rủ T4 đến phòng trọ của Dương Văn C để sử dụng ma túy ke. Sau khi xào ke xong, T2 sử dụng tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng (một nghìn đồng) do C để tại phòng từ trước rồi cuốn thành ống hút để C và T2 sử dụng ma túy ke. Đến khoảng 07 giờ 30 cùng ngày, C gọi điện thoại cho Nghiêm Xuân T4 đến phòng trọ của C để cùng sử dụng ma túy, T4 đồng ý. Khoảng 8 giờ 00 cùng ngày, T4 đến phòng trọ của C. Tại đây, C đưa cho T4 01 viên ma túy kẹo để T4 sử dụng, khi sử dụng hết viên ma túy kẹo thì T4 sử dụng ma túy ke bằng cách tự mình dùng tờ tiền mệnh giá 1000 đồng (một nghìn đồng) trước đó để hít trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng ma túy xong, đến khoảng 09 giờ cùng ngày T4 bỏ đi. Cùng lúc này, khi N1 cùng Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1999 trú tại thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đang ở nhà N1 tại TDP B T, thị trấn Y thì N1 nhận được tin nhắn và cuộc gọi qua ứng dụng Messenger của Dương Văn C. Qua điện thoại, Dương Văn C rủ N1 đến phòng trọ của C để cùng sử dụng ma túy, N1 đồng ý. Sau đó, N1 bảo Nguyễn Mạnh C1: “chở anh ra đây tỷ” thì C1 đồng ý. Theo chỉ dẫn của N1, Nguyễn Mạnh C1 chở N1 đến phòng trọ của Dương Văn C tại TDP 3 T, thị trấn Y. Đến nơi, N1 vào phòng trọ của Dương Văn C còn Nguyễn Mạnh C1 đến quán cắt tóc gần đó để chơi với bạn. Khi vào phòng trọ, N1 cùng Dương Văn C và T2 sử dụng ma túy ke, lần lượt từng người sử dụng ma túy ke bằng cách tự cầm đĩa sứ có sẵn ma túy ke và hít trực tiếp vào cơ thể, không ai giúp đỡ ai trong việc sử dụng ma túy. Khoảng 15 phút sau, Nguyễn Mạnh C1 vào phòng trọ của Dương Văn C thì thấy Dương Văn C, T2 và N1 đang sử dụng ma túy. Do có quen biết với cả nhóm từ trước nên Nguyễn Mạnh C1 vào ngồi cùng cả nhóm và tự sử dụng chất ma túy “ke” có sẵn trên đĩa trong phòng ngủ nhà trọ của Dương Văn C, cả nhóm không có ai phản đối. Khoảng 9 giờ 30 cùng ngày, T4 quay lại phòng trọ của Dương Văn C để sử dụng ma túy cùng cả nhóm. Lúc này, Dương Văn C hỏi cả nhóm: “Ai có tờ tiền nào đem ra để cuốn ống hút” thì T4 lấy tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng của T4 ra đưa cho Dương Văn C, C nhận tờ tiền T4 đưa rồi cuốn tờ tiền thành ống hút để cả nhóm cùng nhau sử dụng ma túy ke. Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày Nguyễn Mạnh C1 không sử dụng ma túy nữa mà một mình đi bộ đến quán cắt tóc gần đó ngồi chơi còn Dương Văn C, T2, N1 và T4 tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy và nghe nhạc đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Dương Văn C cùng đồng bọn có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định.
Như vậy, quá trình điều tra đã xác định được Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 đã 02 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Nghiêm Xuân T4 đã 01 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Cả C, T2 và T4 cùng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên đều cùng ngày 19/12/2023.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ tại vị trí mặt đệm phòng ngủ chỗ ở của Dương Văn C:
- Thu giữ 01 (một) đĩa sứ hình tròn, màu trắng, trên mặt đĩa sứ có bám dính chất bột cục màu trắng. Tiến hành san gạt chất bột cục màu trắng trên mặt đĩa sứ trên vào 01 túi nilon. Tiến hành niêm phong túi nilon đựng chất bột cục màu trắng trên trong phong bì thư ký hiệu A1; niêm phong đĩa sứ nêu trên trong hộp bìa cát tông ký hiệu A2.
- Thu giữ tại mặt đĩa sứ mô tả trên: 01 (một) ống hình trụ tròn được quấn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng, hai đầu ống được bọc bằng hai đầu mẩu thuốc lá; 01 (một) thẻ cứng hình chữ nhật màu đen, đã cũ qua sử dụng.
- Thu giữ tại mặt thảm trong phòng ngủ chỗ ở của Dương Văn C 01 (một) tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng, tờ tiền đã bị rách.
- Thu giữ trong phòng ngủ chỗ ở của Dương Văn C 01 (một) chiếc loa Tako, màu đen, đã cũ qua sử dụng.
- Tạm giữ của Dương Văn C 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đã cũ, đã qua sử dụng.
- Tạm giữ của Nghiêm Xuân T2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng.
- Tạm giữ của Nghiêm Xuân T4 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ ngoài màu đỏ và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max đều đã cũ, đã qua sử dụng.
- Thu giữ và niêm phong mẫu nước tiểu của Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2, Nghiêm Xuân T4, Nguyễn Bảo N1 và Nguyễn Mạnh C1 trong các chai nhựa lần lượt ký hiệu T1, T2, T3, T4, T5.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Lệnh khám xét khẩn cấp số 19, khám xét khẩn cấp chỗ ở, nơi làm việc đối với Dương Văn C, sinh năm 1996, HKTT: TDP 1 Đông, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc tại TDP 1 Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình khám xét đã phát hiện, thu giữ: Thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ chỗ ở của Dương Văn C 01 chai nhựa, phần nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa, đã cũ qua sử dụng.
Ngày 19/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 355, 356, 357, 358, 359 và 360 trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định chất ma túy đối với các mẫu ký hiệu A1, T1, T2, T3, T4 và T5, kết quả như sau:
Tại Kết luận giám định số 3449/KLGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,4025 (không phảy, bốn không hai năm gam, không kể bao bì).
Tại các Kết luận giám định số 3504, 3505 và 3506 cùng ngày 26/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy các chất ma túy MDMA và Ketamin trong mẫu nước tiểu thu của Dương Văn C - sinh năm 1996, ký hiệu T1 gửi giám định; của Nghiêm Xuân T2 - sinh năm 1998, ký hiệu T2 gửi giám định và của Nghiêm Xuân T4 - sinh năm 1998, ký hiệu T3 gửi giám định.
Tại các Kết luận giám định số 3507 và 3508 cùng ngày 26/12/2023, của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: Tìm thấy các chất ma túy Methamphetamin và K trong mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Bảo N1 - sinh năm 1995, ký hiệu T4 gửi giám định và của Nguyễn Mạnh C1 - sinh năm 1999, ký hiệu T5 gửi giám định.
Ngày 22/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 136, 137 và 138 trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S vỏ ngoài màu đỏ và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max đều đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 và Nghiêm Xuân T4.
Tại các Bản kết luận giám định số 919 và 920 cùng ngày 03/4/2024 và Bản kết luận giám định số 1044 ngày 16/4/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định được nhiều cuộc gọi điện thoại và tin nhắn thông qua các ứng dụng, tuy nhiên không phát hiện nội dung liên quan đến việc mua bán chất ma túy do các đối tượng đã xóa hết các nội dung liên quan đến hành vi trên.
Tại Cáo trạng số 66/CT - VKSYL ngày 27/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc truy tố các bị cáo Dương Văn C và Nghiêm Xuân T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nghiêm Xuân T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn C từ 08 (T) năm 03 (Ba) tháng đến 08 (T7) năm 06 (Sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nghiêm Xuân T2 từ 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng đến 08 (T7) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 của Bộ luật hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Nghiêm Xuân T4 từ 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng đến 07 (Bảy) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ghi “Mẫu trả vụ 3288” gồm A1 = 0,3550g ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 05 chai nhựa ký tự T1, T2, T3, T4, T5 đựng mẫu nước tiểu giám định; 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng; 02 (hai) đầu mẩu thuốc lá; 01 (một) thẻ cứng hình chữ nhật màu đen; 01 (một) chai nhựa, phần nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước tờ tiền mệnh giá 1000 đồng, đã bị rách và tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng các đối tượng làm ống hút để sử dụng ma túy.
Tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc loa Tako, màu đen; 01 (một) điện di động nhãn hiệu Iphone 5 đã cũ đã qua sử dụng của Dương Văn C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng của Nghiêm Xuân T2 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max đã cũ, đã qua sử dụng của Nghiêm Xuân T4, quá trình điều tra xác định là điện thoại của C, T2 và T4 sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Nghiêm Xuân T4, quá trình điều tra xác định là phương tiện để T4 trao đổi, liên lạc với người thân và bạn bè, ngày 19/12/2023, T4 không sử dụng điện thoại trên để nhắn tin trao đổi về việc sử dụng ma túy, nhưng đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 và Nghiêm Xuân T4 thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, các bị cáo không tranh luận gì và đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Mạnh C1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra anh trình bày và xác nhận nội dung sự việc như các bị cáo Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 và Nghiêm Xuân T4 đã khai, anh thừa nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của Dương Văn C tại TDP 3 T, thị trấn Y vào ngày 19/12/2023. Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh và anh không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bảo N1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra anh xác nhận nội dung sự việc như các bị cáo đã khai, anh thừa nhận đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của Dương Văn C tại TDP 3 T, thị trấn Y vào ngày 19/12/2023. Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh và anh không có ý kiến gì.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu T5 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra ông trình bày: Ngày 10/12/2023, ông T5 cho chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1992 (vợ của Dương Văn C) thuê phòng trọ của nhà ông ở TDP C T, thị trấn Y. Phòng trọ ông cho thuê ở riêng, không chung khuân viên nhà ông ở. Ông không biết gì việc các bị cáo sử dụng phòng trọ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị T1 trình bày và xác nhận nội dung ông T5 đã trình bày tại cơ quan điều tra là đúng. Chị không biết gì việc Dương Văn C (chồng chị) và các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ ở TDP C T, thị trấn Y, huyện Y.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị H vắng mặt tại phiên tòa xong trong quá trình điều tra bà trình bày các nội dung phù hợp với lời khai của các bị cáo C, T2 và T4 cùng các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 và Nghiêm Xuân T4 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc. Các bị cáo khai nhận: Trong ngày 19/12/2023, Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 đã 02 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Nghiêm Xuân T4 đã 01 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Đồng thời, các bị cáo C, T2 và T4 cùng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, sau khi Dương Văn C và T2 mua được ma túy “kẹo”, “ke” và ma túy “đá” bằng nguồn tiền của C thì C và T2 cùng về phòng trọ của C ở TDP 3 T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc để sử dụng ma túy. Tại đây, C rủ N1 đến để sử dụng ma túy đá thì được N1 đồng ý. Quá trình sử dụng N1 tự sử dụng ma túy, không cần ai hỗ trợ và không đóng góp công sức gì. Sau khi sử dụng xong ma túy, C và T2 ngủ tại phòng trọ, còn N1 đi về nhà mình để ngủ.
Lần thứ hai: Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, C và T2 ngủ dậy, C lấy số ma túy là “kẹo” chia cho T2 mỗi người 1 viên để sử dụng. Sau khi sử dụng xong, C và T2 tiếp tục sử dụng ma túy “ke”, T2 chuẩn bị công cụ là đĩa sứ, bật lửa và 01 chiếc thẻ cứng, đồng thời cả 2 gọi điện và nhắn tin rủ T4 đến sử dụng ma túy. Ngoài ra, C còn gọi điện rủ N1 đến sử dụng ma túy. Khi đến nơi T4 được C cho 01 viên ma tuý kẹo để sử dụng. Sau khi sử dụng xong ma túy kẹo, T4 có hành vi chuẩn bị công cụ là 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng để cuốn thành ống hút, sau đó cả 3 cùng sử dụng, đồng thời còn có Nguyễn Bảo N1 và Nguyễn Mạnh C1 sử dụng ma túy tại nơi ở của Dương Văn C ở TDP C T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, Tổ công tác Công an huyện Y phát hiện, bắt quả tang, thu giữ cùng tang vật.
[3] Xét lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định của Phòng giám định kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V, vật chứng vụ án thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 đã 02 lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Đồng thời, các bị cáo C, T2 và Nghiêm Xuân T4 cùng có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đối với 02 người trở lên. Hành vi nêu trên của Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015. Hành vi của Nghiêm Xuân T4 đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:
“...1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên .....”.
[4] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến tính chất độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện; ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Trong khi đó, diễn biến của tình hình tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng, Nhà nước ta đang tích cực nhằm loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Dương Văn C là người khởi xướng, rủ rê, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý, trực tiếp liên hệ mua ma túy, sử dụng tiền của mình để mua ma túy, cung cấp chất ma túy và chuẩn bị chất ma túy nhằm mục đích đưa trái phép vào cơ thể người khác (gồm Nghiêm Xuân T2, Nghiêm Xuân T4, Nguyễn Bảo N1 và Nguyễn Mạnh C1); Bị cáo Nghiêm Xuân T2 và bị cáo Nghiêm Xuân T4 đều là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Cụ thể: Bị cáo T2 đã giúp cho Dương Văn C chuẩn bị chất ma túy, trực tiếp liên hệ mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ là đĩa sứ, bật lửa và thẻ cứng để sử dụng ma túy, đồng thời bị cáo là người trực tiếp sào ma túy Ketamine cho các đối tượng cùng sử dụng; Bị cáo T4 chuẩn bị công cụ là tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng để cuốn thành ống hút cho các đối tượng cùng sử dụng ma túy. Đó là những căn cứ để Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét để cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo.
[6] Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Riêng bị cáo C được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51, đó là: Bị cáo đã tích cực hợp tác với Phòng K1, Công an tỉnh V trong việc phát hiện tội phạm. Tuy nhiên, cả 03 bị cáo đều không được hưởng tình tiết ăn năn hối cải, bởi lẽ: Các bị cáo đều là những người có nhận thức bình thường, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, bất chấp quy định của pháp luật xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hơn nữa, trước khi phạm tội các bị cáo đều có nhân thân xấu. Cụ thể: Bị cáo Nghiêm Xuân T2 đã từng bị UBND huyện Y đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xét xử đều về tội trộm cắp tài sản; Bị cáo Nghiêm Xuân T4 bị Tòa án hai cấp tỉnh Vĩnh Phúc xét xử về tội cướp tài sản; Riêng bị cáo Dương Văn C ngoài nhân thân xấu là 02 lần bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xét xử đều về tội trộm cắp tài sản, bị cáo C còn có 02 lần bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi hủy hoại tài sản và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngoài ra, bị cáo C còn có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản số 26/HSST ngày 03/06/2021, của Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc. Ngày 08/01/2022, Dương Văn C chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Ngày 06/5/2024, Dương Văn C đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và 2.000.000 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự nhưng chưa thi hành khoản tiền bồi thường cho bị hại. Đến ngày 19/12/2023, Dương Văn C tiếp tục phạm tội như nội dung nêu trên. Do vậy, lần phạm tội này của C thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 bộ luật hình sự.
Như vậy, từ những phân tích trên thấy rằng: Các bị cáo C, T2 và T4 đều có nhân thân xấu nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện trở thành người công dân tốt mà tiếp tục vi phạm pháp luật. Do vậy, cần có một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi của các bị cáo để giáo dục, cải tạo các bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn cả nước nói chung và địa bàn huyện Y nói riêng loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng mà không có chiều hướng giảm nên cần phải xử lý các bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ, các bị cáo đều không có tài sản, thu nhập không ổn định. Do vậy, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[8] Trong vụ án này còn có Nguyễn Bảo N1 và Nguyễn Mạnh C1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại TDP 3 T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 19/12/2023. Quá trình điều xác định hành vi của N1 và Mạnh C1 chỉ cùng tham gia sử dụng ma túy mà không thực hiện hay giúp sức gì trong sự việc trên nên Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Bảo N1 và Nguyễn Mạnh C1 theo quy định của pháp luật.
Đối với nam giới tên V mà Dương Văn C khai đã bán chất ma túy cho C ngày 19/12/2023 tại khu vực thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bản thân Dương Văn C không biết cụ thể họ tên, tuổi, địa chỉ của người này, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để tiếp tục xác minh và không đề cập xử lý.
Đối với Dương Văn T6 mà Nghiêm Xuân T2 khai đã bán chất ma túy cho T2 ngày 19/12/2023. Cơ quan điều tra phối hợp với Công an thị trấn Y xác minh, xác định trên địa bàn thị trấn Y có duy nhất một người có tên Dương Văn T6, sinh năm1982 trú tại: TDP C Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra nhiều lần tiến hành triệu tập Dương Văn T6 để làm việc nhưng T6 không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương không biết T6 đi đâu, làm gì nên không tiến hành làm việc được với Dương Văn T6. Đồng thời ngày 09/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra thông báo truy tìm số 182/TB - ĐCSKT - MT về việc truy tìm người đối với Dương Văn T6 có lý lịch như khai trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả, vì vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào rõ xử lý sau.
Đối với ông ông Nguyễn Hữu T5 là chủ nhà trọ và chị Đỗ Thị T1 là vợ của Dương Văn C. Quá trình điều tra xác định ông T5 và chị T1 không biết gì việc các đối tượng sử dụng phòng trọ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
[9] Xử lý vật chứng:
Đối với bao gói niêm phong mẫu vật ghi “Mẫu trả vụ 3288” gồm A1 = 0,3550g ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 05 chai nhựa ký tự T1, T2, T3, T4, T5 đựng mẫu nước tiểu giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định là công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) ống hình trụ tròn được quấn bằng tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng, hai đầu ống được bọc bằng hai đầu mẩu thuốc lá thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định tờ tiền polime là của Nghiêm Xuân T4, do T4 đưa cho Dương Văn C để C cuốn thành ống hút làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nước; đối với 02 đầu mẩu thuốc lá, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) thẻ cứng hình chữ nhật màu đen thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định là của Dương Văn C, do Nghiêm Xuân T2 sử dụng làm công cụ hỗ trợ trong việc dùng ma túy, do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 1000 đồng, đã bị rách thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định là của Dương Văn C, các đối tượng làm công cụ để sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) chiếc loa Tako, màu đen thu giữ khi bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định là của Dương Văn C, C sử dụng để bật nhạc phục vụ việc sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) chai nhựa, phần nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa thu giữ tại tủ quần áo trong phòng ngủ khi khám xét chỗ ở, nơi làm việc của Dương Văn C. Quá trình điều tra xác định là của Dương Văn C, C sử dụng làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Dương Văn C, quá trình điều tra xác định là phương tiện để Dương Văn C trao đổi, mua bán ma túy và tìm người sử dụng ma túy nhằm mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Nghiêm Xuân T2, quá trình điều tra xác định là phương tiện để Nghiêm Xuân T2 trao đổi, mua bán ma túy và tìm người sử dụng ma túy nhằm mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu, bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Nghiêm Xuân T4, quá trình điều tra xác định là phương tiện Nghiêm Xuân T4 dùng vào việc liên lạc để sử dụng ma túy nên cần tịch thu, bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Nghiêm Xuân T4, quá trình điều tra xác định là phương tiện để Nghiêm Xuân T4 trao đổi, liên lạc với người thân và bạn bè, ngày 19/12/2023, T4 không sử dụng điện thoại trên để nhắn tin trao đổi về việc sử dụng ma túy, vì vậy cần trả lại cho T4 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[10] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 và Nghiêm Xuân T4 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s, t khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 và điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Văn C 08 (T7) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nghiêm Xuân T2 08 (T7) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nghiêm Xuân T4 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 19/12/2023.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật ghi “Mẫu trả vụ 3288” gồm A1 = 0,3550g ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành và 05 chai nhựa ký tự T1, T2, T3, T4, T5 đựng mẫu nước tiểu giám định; 01 (một) đĩa sứ hình tròn màu trắng; 02 (hai) đầu mẩu thuốc lá; 01 (một) thẻ cứng hình chữ nhật màu đen; 01 (một) chai nhựa, phần nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước tờ tiền mệnh giá 1000 đồng đã bị rách và tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng các đối tượng làm ống hút để sử dụng ma túy.
Tịch thu bán phát mại nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc loa Tako, màu đen; 01 (một) điện di động nhãn hiệu Iphone 5 đã cũ đã qua sử dụng của Dương Văn C; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng của Nghiêm Xuân T2 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max đã cũ, đã qua sử dụng của Nghiêm Xuân T4, quá trình điều tra xác định là điện thoại của C, T2 và T4 sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO vỏ ngoài màu đỏ đã cũ, đã qua sử dụng tạm giữ của Nghiêm Xuân T4, quá trình điều tra xác định là phương tiện để T4 trao đổi, liên lạc với người thân và bạn bè. Ngày 19/12/2023, T4 không sử dụng điện thoại trên để nhắn tin trao đổi về việc sử dụng ma túy, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Tất cả các vật chứng, số tiền nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Dương Văn C, Nghiêm Xuân T2 và Nghiêm Xuân T4, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án đối với phần nội dung Bản án có liên quan đến quyền và lợi ích của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Thị Thanh M |
Bản án số 77/2024/HS - ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Văn C và ĐP
