Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30 tháng 8 năm 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Nhựt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Tuấn;
  2. Bà Nguyễn Thị Kiều Trang.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Trần Huy Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 132/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Tổ C, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Mai Văn S, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ A, ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Ngô Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà và ông Mai Văn S do tự tìm hiểu, được gia đình đồng ý nên tiến đến hôn nhân, chung sống từ năm 2013 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang năm 2014. Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, ông S ghe tuông vô cớ, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, ông S không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu nên phát sinh cự cãi với nhau, bà khuyên nhiều lần nhưng ông S không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên cả hai không còn chung sống với nhau từ đó cho đến nay. Tình cảm vợ chồng không còn bà N yêu cầu xin được ly hôn với ông Mai Văn S.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Mai Vũ L, sinh ngày 24/9/2014. Cháu L hiện sống với bà N. Sau khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi con chung. Bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án tiến hành hòa giải, công khai tài liệu, chứng cứ để hàn gắn tình cảm nhưng bà N không đồng ý. Tại phiên tòa bà N vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn; ông Mai Văn S vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực đúng hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Ngô Thị N đối với ông Mai Văn S; giao con chung là cháu Mai Vũ L cho bà N nuôi dạy, ông S không phải cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Bà Ngô Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Ngô Thị N khởi kiện xin được ly hôn với ông Mai Văn S có nơi cư trú tại ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Ông Mai Văn S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, không có đơn xin xét xử vắng mặt.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung:

[2.1] Hôn nhân giữa bà Ngô Thị N và ông Mai Văn S do tự tìm hiểu, chung sống có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thị xã T, tỉnh An Giang, được xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là không hòa hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống. Xuất phát từ việc ông S có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu nên phát sinh cự cãi với nhau. Bà N khuyên nhiều lần nhưng ông S không thay đổi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên cả hai không còn chung sống với nhau từ đó cho đến nay.

Tòa án tiến hành xác minh, ghi lời khai khai người thân trong gia đình xác định mâu thuẫn đúng như bà N trình bày. Mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, vợ chồng không còn chung sống với nhau đã lâu.

Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà N, ông S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến giải quyết vụ án của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung: Có 01 con chung tên Mai Vũ L, sinh ngày 24/9/2014. Hiện đang sống với bà N, sau khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi cháu L, không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, từ lúc phát sinh mâu thuẫn bà N vẫn chăm sóc nuôi dạy cháu L. Nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống, sự phát triển bình thường của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin được nuôi con chung sau khi ly hôn của bà Ngô Thị N.

Công nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bà Ngô Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Bà Ngô Thị N được ly hôn ông Mai Văn S.

- Về con chung: Bà Ngô Thị N được tiếp tục nuôi cháu Mai Vũ L, sinh ngày 24/9/2014.

Công nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Bà Ngô Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007967 ngày 23/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu (bà N đã nộp đủ).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bà Ngô Thị N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 30/8/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Ông Mai Văn S có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh An Giang;
  • VKSND tỉnh An Giang;
  • VKSND TX.Tân Châu;
  • Chi cục THADS Tx.Tân Châu;
  • Các đương sự (để thi hành);
  • UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Minh Nhựt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BÀ NGÔ THỊ N LY HÔN ÔNG MAI VĂN S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger