|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HSST Ngày: 30 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết
Hội thẩm nhân dân: 1. Phạm Ngọc Lợi
2. Bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và Tên: Nguyễn Văn H. Tên gọi khác: Không; sinh năm 1993 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo (Thiên chúa); Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đức T và con bà Phan Thị L (Đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Ngày 24/11/2021, Công an xã T, huyện T, tỉnh Nam Định ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25 xử phạt Nguyễn Văn H 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2023 đến ngày 25/12/2023 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh N đến ngày 29/01/2024 được áp dụng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Phạm Văn T1. Vắng mặt
Anh Vũ Văn C. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng pháo để đốt vào dịp lễ Noel và tết Nguyên đán Giáp Thìn nên Nguyễn Văn H lên mạng xã hội Internet tìm người bán pháo nổ để mua. Đến ngày 14/12/2023, H thấy một người có số điện thoại 0787.161.xxx đăng các thông tin rao bán pháo nổ. Sau đó H sử dụng điện thoại động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0352.485.xxx gọi điện đến số 0787.161.615 để hỏi mua pháo thì có người đàn ông( không rõ họ, tên, địa chỉ) nghe máy. Hiến đặt mua của người này 50 bệ pháo nổ, loại 49 quả/1 bệ với giá là 800.000 đồng/1 bệ. Người này đồng ý và hẹn đến tối ngày 16/12/2023 sẽ giao pháo cho H tại thành phố N, tỉnh Ninh Bình còn địa điểm cụ thể sẽ thông báo cho H sau. Khoảng 19 giờ ngày 16/12/2023, H thuê anh Phạm Văn T1 sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định chở đi đến thành phố N. Anh T1 đồng ý và điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, biển kiểm soát 18A-316.20 chở H đi từ bến phà Đ, huyện N, tỉnh Nam Định sang thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Trên đường đi, H điện thoại cho người đàn ông bán pháo nổ hỏi địa điểm giao pháo. Người này bảo H đi đến khu vực đường T, phố T, phường N, thành phố N. Khi đến nơi, H thấy một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đang đứng ở vỉa hè đường T. Hiến điện thoại đến số điện thoại 0787.161.xxx thì biết người đàn ông này là người bán pháo nổ cho H và bảo H đi theo anh ta. Khi đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường T với ngõ B, đường T, phố T, phường N, thành phố N thì người này đi đến gần 02 thùng xốp bên ngoài được dán băng dính màu vàng kích thước ( 50x70x45) cm để trên vỉa hè rồi nói với H bên trong 02 thùng xốp là 50 bệ pháo nổ. H đưa cho đàn ông 40.000.000 đồng. Người này cầm tiền và điều khiển xe đi. Lúc này H nói với T1 “Xuống xe bê hộ anh hai thùng hoa quả”. Sau đó T1 và H khiêng 01 thùng xốp để vào cốp xe ô tô. Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày khi T1 và H đang khiêng thùng xốp thứ hai lên xe ô tô thì bị Tổ công tác thuộc Phòng C1 Công an tỉnh N tuần tra kiểm soát trên địa bàn thấy H có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, bên ngoài 02 thùng xốp được dán băng dính màu vàng, bên trong mỗi thùng xốp có 25 khối hình hộp chữ nhật, bên ngoài mỗi khối được dán giấy có hình hoa văn và có ký tự chữ nước ngoài. H khai nhận đó là 50 bệ pháo nổ mà H vừa mua được với mục đích để đốt.
Tổ công tác đã tiến hành thu giữ niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa H cùng vật chứng và mời người liên quan về trụ sở Công an phường N, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0352.485.xxx và thu giữ của Phạm Văn T1 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, biển kiểm soát 18A-316.20.
Tiến hành mở niêm phong:
- 01 thùng xốp bên ngoài được dán băng dính màu vàng, kích thước ( 50x70x50) cm (thùng số 1), bên trong có 25 khối hình hộp chữ nhật, kích thước các khối bằng nhau ( 17x17x10) cm, tiến hành cân xác định khối lượng, cụ thể:
- + 11 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ Chong KOL C0845, có tổng khối lượng 19,276kg kí hiệu M1.
- + 06 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-49 B, có tổng khối lượng 10,180kg kí hiệu M2.
- + 03 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-49 A, có tổng khối lượng 5,1kg kí hiệu M3.
- + 05 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-4911, có tổng khối lượng 7,922kg kí hiệu M4.
Tổng khối lượng của 25 khối hình hộp chữ nhật trên là: 42,478kg.
- 01 thùng xốp bên ngoài được dán băng dính màu vàng, kích thước ( 50x70x45) cm (thùng số 2) bên trong có 25 khối hình hộp chữ nhật, kích thước các khối bằng nhau( 17x17x10) cm, tiến hành cân xác định khối lượng, cụ thể:
- + 02 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-49 B, có tổng khối lượng 3,4kg kí hiệu M5.
- + 03 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ KS4-4911, có tổng khối lượng 4,609kg kí hiệu M6.
- + 20 khối hình hộp chữ nhật, xung quanh bọc giấy in chữ nước ngoài và dòng chữ Chong KOL C0845, có tổng khối lượng 34,712kg kí hiệu M7.
Tổng khối lượng của 25 khối hình hộp chữ nhật trên là: 42,721kg.
Tại bản Kết luận giám định số: 29/KL-KTHS-ChN ngày 21/12/2023 của Phòng C1 Công an tỉnh N, kết luận:
- - 50 khối hình hộp chữ nhật bọc giấy trong các mẫu ký hiệu từ M1 đến M7 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ).
- - Khối lượng của các hộp pháo nổ trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là 19,276kg; M2 là 10,180kg, M3 là 5,1kg; M4 là 7,922kg; M5 là 3,4kg; M6 là 4,609kg; M7 là 34,712kg.
- - Tổng khối lượng của 50 hộp pháo nổ trong các mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M7 là 85,199kg.
Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: 02 thùng xốp dán băng dính màu vàng bên trong đựng mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu lần lượt từ M1 đến M7. Tổng khối lượng còn lại của 50 hộp pháo trong mẫu gửi đi giám định là 73,4kg.
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSNDTPNB ngày 10/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 50 (Năm mươi) hộp pháo nổ khối hình hộp chữ nhật, đều có cùng kích thước (17x17x10) cm, tổng khối lượng còn lại sau giám định trong các mẫu gửi giám định là 73,4 kg đã được niêm phong trong hai thùng xốp dán băng dính màu vàng theo đúng quy định của pháp luật.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0352.485.xxx.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Kết luận giám định số 29/KL-KTHS-ChN ngày 21/12/2023 của Phòng C1 Công an tỉnh N. Như vậy Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 16/12/2023 tại khu vực ngã ba giao nhau giữa đường T và ngõ B đường T, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Văn H có hành vi tàng trữ 85,199 kilôgam pháo, loại pháo nổ (còn được gọi là pháo hoa nổ) nhằm mục đích để sử dụng vào dịp lễ Noel và tết Nguyên đán G thì bị phát hiện bắt quả tang.
[2] Hành vi của bị cáo là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số hàng hoá Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm tàng trữ, sử dụng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự đồng thời biết rất rõ hành vi tàng trữ pháo hoa nổ bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
g) Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kilôgam;
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 triệu đồng đến 50.000.000 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo mất sớm, bố bị cáo lấy vợ, bị cáo ở với bà nội đã cao tuổi, bị cáo thu nhập thấp, không ổn định, phải chăm sóc bà sức khoẻ yếu. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt: Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ răn đe, phòng ngừa. Việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Tuy nhiên do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, làm nghề tự do thu nhập thấp, hơn nữa bị cáo tàng trừ pháo hoa nổ mục đích là để sử dụng, không mua bán kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Về xử lý vật chứng: Pháo hoa nổ không rõ nguồn gốc là hàng hoá nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ 02 thùng xốp dán băng dính màu vàng bên trong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0352.485.xxx. Bị cáo dùng để liên lạc hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[6] Các vấn đề khác:
Về nguồn gốc pháo nổ: Nguyễn Văn H khai mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ qua mạng Internet sử dụng số điện thoại 0787.161.xxx vào ngày 16/12/2023. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao số điện thoại trên mang tên Hoàng Thị H1 sinh năm 1975, trú tại thôn C, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành làm việc với bà Hoàng Thị H1, bà H1 cho biết bà không đăng ký số điện thoại 0787.161.xxx để sử dụng. Bà không cung cấp, cho mượn, thuê thông tin cá nhân trên của bà để đăng ký số điện thoại hoặc sử dụng dịch vụ thuê bao. Bà H1 không quen biết ai là Nguyễn Văn H, sinh năm 1993, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Vì vậy không có cơ sở điều tra xác minh làm rõ đối với người nam giới đã bán cho H số pháo nổ trên.
Đối với Phạm Văn T1, quá trình điều tra xác định ngày 16/12/2023 khi H thuê T1 chở đi đến khu vực phố T, phường N, thành phố N, T1 không biết H đi mua pháo nổ. Khi H xuống xe nói chuyện với một người đàn ông ven đường T ngồi ở trên xe chờ nên không biết nội dung thoả thuận việc trao đổi mua bán pháo nổ. Khi được H nhờ khiêng 02 thùng xốp lên xe ô tô, T1 không biết bên trong 02 thùng xốp là pháo hoa nổ. Vì vậy không đủ căn cứ để xác định T1 đồng phạm với hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H.
Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, biển kiểm soát 18A-316.20, quá trình điều tra xác định đăng ký mang tên ông Phạm Văn S sinh năm 1977, trú tại thị trấn L, huyện N, tỉnh Nam Định là bố đẻ của Phạm Văn T1. Ông S đã cho T1 mượn xe ô tô để làm dịch vụ xe Taxi. Ngày 16/12/2023, H thuê Phạm Văn T1 chở sang khu vực thành phố N nói là đi có việc. T1 không biết H thuê chở H đi mua pháo nổ. Khi H nhờ T1 khiêng hai thùng pháo lên xe, T1 không biết bên trong thùng xốp là pháo nổ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại chiếc xe trên cho anh T1 (theo giấy uỷ quyền của ông S). Anh T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện T, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy 50 (Năm mươi) hộp pháo nổ khối hình hộp chữ nhật, đều có cùng kích thước (17x17x10) cm, tổng khối lượng còn lại sau giám định trong các mẫu gửi giám định là 73,4 kg đã được niêm phong trong hai thùng xốp dán băng dính màu vàng theo đúng quy định của pháp luật.
- (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N).
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone lắp sim số 0352.485.xxx.
- (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/4/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Tuyết |
Bản án số 77/2024/HSST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về vụ án hình sự về tội tàng trữ hàng cấm
- Số bản án: 77/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội Tàng trữ hàng cấm
