TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 77/2023/DS-PT Ngày 29 tháng 11 năm 2023 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Toàn;
Ông Nguyễn Quang Vũ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 49/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2023/QĐ-PT ngày 03/11/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1963
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Hoàng Thị Hồng N, sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1963
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1984
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. - UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Công T1 - Chủ tịch;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn G - Phó chủ tịch. - Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1965
Địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(Anh T, chị L có mặt, những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)
Người kháng cáo: Anh Phạm Văn T – Là nguyên đơn.
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn và luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:
Anh Phạm Văn T và chị Hoàng Thị L đăng ký kết hôn vào tháng 10 năm 2001. Sau khi kết hôn anh chị ở nhờ trên nhà đất của gia đình ông B (bố đẻ chị L). Ngày 10/10/2001, hai vợ chồng có mua lại của ông Hoàng Văn B (bố đẻ chị L) thửa đất số 80, tờ bản đồ số 01 nay là thửa 140 tờ bản đồ số 12, diện tích là 380m² đất và nhà gỗ, tại khu A, xã H, huyện T với giá 5.000.000 đồng đã thanh toán đủ số tiền cho ông B, ông B có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T giữ nhưng do đi làm ăn xa anh T có gửi lại cho ông B. Khi mua không làm hợp đồng chuyển nhượng chỉ có giấy viết tay có ông Đặng Văn T4 là trưởng khu ký xác nhận. Sau đó anh T và chị L chung sống ổn định nhưng không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2008 thì làm thủ tục ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản do ông B không trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T. Năm 2017, ông B đã tự ý làm thủ tục tặng cho con gái là Hoàng Thị L và Hoàng Thị Hồng N quyền sử dụng chính thửa đất đã bán cho anh T, anh T không biết việc này. Đến năm 2020, anh T làm đơn đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 87/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy đã chia tài sản chung của vợ chồng là 285,9m², chị L được sử dụng 192,6m², anh T được sử dụng 93,3m². Phần đất ông B tặng cho chị N là 98,7m² Tòa án chưa giải quyết, anh T khẳng định phần đất này là thuộc quyền sở hữu của anh T (93,3m² + 98,7m² = 192m² mới tương đương phần đất chị L đã được hưởng). Nay anh T khởi kiện:
Đề nghị Tòa án xác định diện tích 98,7m² thuộc thửa đất số 512, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Văn T.
Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn B và chị Hoàng Thị Hồng N do UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017, số chứng thực 236, quyển số 02- SCT/HĐ,GD. Đồng thời kiến nghị UBND huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đã cấp cho chị Hoàng Thị Hồng N.
Bị đơn ông Hoàng Văn B trình bày:
Ông B được UBND huyện T, tỉnh Vĩnh Phú (nay là huyện T, tỉnh Phú Thọ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 80, tờ bản đồ số 01 nay là thửa 140 tờ bản đồ số 12, diện tích là 380m² tại khu A, xã H, huyện T vào năm 1990, nguồn gốc của thửa đất là ông B mua lại của bố vợ là ông Đặng Văn L1 (đã chết). Năm 2001, con gái ông B là chị Hoàng Thị L có kết hôn với anh Phạm Văn T, do hai vợ chồng chị L và anh T không có chỗ ở nên vào năm 2002 ông B có ý định bán thửa đất như trên cho anh T, chị L nhưng anh chị không thanh toán tiền cho ông nên ông không đồng ý bán nữa. Tuy nhiên sau đó đến năm 2008 anh T và chị L làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhưng vẫn chưa có tiền thanh toán cho ông B, do đó mảnh đất trên vẫn thuộc quyền sử dụng của ông B. Do anh T với chị L ly hôn, vì thương con nên năm 2017 ông làm thủ tục tặng cho 02 con gái là Hoàng Thị L 285,9m² và Hoàng Thị Hồng N 98,7m². Chị L và chị N đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2020, anh T yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng, khi đó chị L cho rằng anh T có trách nhiệm nuôi cháu Phạm Quốc T5 nên chị L đã đồng ý chia cho anh T được sử dụng 93,3m² mục đích là cho con là cháu T5 đang ở cùng anh T. Tuy nhiên, sau khi chia cho anh T 93,3m² đất để cho cháu T5 thì anh T đã bán luôn cho người khác. Ông chưa làm thủ tục gì để bán đất cho anh T, chị L. Đối với “Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 10/10/2001” mà anh T đã cung cấp cho Tòa án ông B khẳng định ông không được ký. Nay anh T khởi kiện ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của anh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị L trình bày:
Chị L hoàn toàn nhất trí với quan điểm của ông Hoàng Văn B. Năm 2001 chị kết hôn với anh T, do vợ chồng chị không có chỗ ở nên ở nhờ đất của bố mẹ chị là ông B. Năm 2002 anh chị định mua thửa đất của ông B, nhưng do vợ chồng chị làm ăn rất khó khăn nên không có tiền trả cho ông B, vì vậy việc mua bán đất giữa vợ chồng chị với ông B không thành và ông B không bán nữa. Năm 2008 chị với anh T ly hôn. Năm 2017 ông B làm thủ tục tặng cho chị với chị N mỗi người một phần. Sau đó anh T làm đơn đến Tòa án đòi chia. Chị nghĩ cháu T5 là con chung của anh chị đang ở cùng anh T nên chị mới đồng ý cho anh T 01 phần, mục đích là cho con (cháu T5) chứ không phải là tài sản chung của vợ chồng chia cho anh T. Tuy nhiên, sau khi chia cho anh T 93,3m² đất để cho cháu T5 thì anh T đã bán luôn cho người khác. Nay anh T lại tiếp tục đòi chia nữa thì chị không đồng ý, vì đất là của bố mẹ chị cho chứ không phải của chung vợ chồng. Nay anh T khởi kiện, chị hoàn toàn không đồng ý toàn bộ nội dung khởi kiện của anh T.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị Hồng N trình bày:
Năm 2017, bố chị là ông Hoàng Văn B có tặng cho chị diện tích đất là 98,7m² thuộc thửa đất 512, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, sau khi được cho tặng chị đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N. Việc tặng cho đã được cấp có thẩm quyền chứng thực hợp pháp. Nay anh T khởi kiện cho rằng thửa đất trên là của anh T và chị L và đề nghị Tòa án xác định thửa đất trên thuộc quyền sử dụng của anh T là hoàn toàn không có căn cứ, bởi lẽ thửa đất trên là của bố chị là ông B, nguồn gốc thửa đất của ông B là hợp pháp. Chị được biết trước đây bố chị định bán cho anh T và chị L, nhưng anh, chị không trả tiền cho ông B nên ông B không bán cho anh T, chị L nữa. Nay ông B đã cho chị và chị đã được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hợp pháp. Vì vậy chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh T.
Đại diện UBND xã H ông Nguyễn Văn G trình bày:
Căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hoàng Văn B đã được UBND huyện T, V (Nay là T, Phú Thọ) cấp ngày 05/11/1990; Căn cứ vào Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn B với chị Hoàng Thị L và chị Hoàng Thị Hồng N được thực hiện tại UBND xã là có thật, việc ông B tặng cho chị N và chị L trên cơ sở tự nguyện, được thực hiện theo trình tự luật định, thể hiện tại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất năm 2017, UBND xã H đã chứng thực ngày 27/10/2017, số chứng thực số 236 quyển số 02- SCT/HĐ,GD. Sau khi chứng thực, UBND xã đã hoàn thiện hồ sơ chuyển UBND huyện và được UBND huyện làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị L và chị N theo quy định của pháp luật.
Còn đối với giấy chuyển nhượng đất ở giữa anh Phạm Văn T với ông Hoàng Văn B gửi ông đội trưởng khu 1, thì không có căn cứ chứng minh rằng anh Phạm Văn T đã thanh toán đầy đủ số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử đất cho ông Hoàng Văn B theo như thỏa thuận hai bên;
Quan điểm của UBND xã H: UBND xã chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị Hồng N là đúng quy định của pháp luật. Việc anh T đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn B và chị Hoàng Thị Hồng N do UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017, số chứng thực 236, quyển số 02-SCT/HĐ,GD là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Lời khai của ông Đặng Văn T4 (Người xác nhận vào giấy chuyển nhượng đất) thể hiện: Vào thời điểm năm 2001, khi đó ông làm đội trưởng khu 1, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Ông khẳng định ông có được ký vào phần xác nhận trưởng khu 1 trong “Giấy chuyển nhượng đất ở” ngày 10/10/2001. Khi ông ký vào giấy thì thấy nội dung được đánh máy sẵn, có sẵn chữ ký của anh T và ông B do anh T mang lên cho ông ký. Anh T trình bày với ông là: Ông B đã thống nhất chuyển nhượng thửa đất này, đã có đủ chữ ký, cháu xin chữ ký của ông để lên xã xin xác nhận, khi đó không có mặt ông B. Vì tin tưởng nên ông đã ký. Còn có việc chuyển nhượng hay không thì ông không biết.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2023/DS-ST ngày 29/6/2023, Tòa án nhân dân (TAND) huyện T đã quyết định:
Áp dụng: Điều 707 bộ luật dân sự năm 1995; Điều 459 BLDS 2015; Khoản 1, 3 Điều 167 Luật đất đai 2013; Khoản 2 Điều 31 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2001; Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T về việc: Xác định diện tích 98,7m² thuộc thửa đất số 512, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú thọ do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh Phạm Văn T;
Không chấp nhận yêu cầu của anh T về việc: Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chứng thực số 236, quyển số 02- SCT/HĐ,GD của UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017, giữa ông Hoàng Văn B với chị Hoàng Thị Hồng N.
Về án phí: Buộc anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số AA/2020/0006113 ngày 06/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, nay chuyển thành án phí.
Ngoài ra bản án còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/7/2023, anh Phạm Văn T kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm xét xử huỷ bản án sơ thẩm bởi các lý do:
- Thửa đất số 80 diện tích 380 m² là tài sản chung của anh và chị L trong thời kỳ hôn nhân.
- Thứ nhất: Căn cứ vào giấy chuyển nhượng đất ở ngày 10/10/2001, ông Hoàng Văn B đã đồng ý chuyển nhượng thửa đất này cho anh và chị L.
- Thứ hai: Căn cứ vào thực tế sử dụng đất. Kể từ ngày nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông B, anh và chị L đã trực tiếp quản lý sử dụng và xây dựng nhà cửa trên thửa đất này; cho đến năm 2008, vợ chồng anh chị ly hôn, chị L vẫn tiếp tục sử dụng và sinh sống trên thửa đất này.
- Thứ ba: Căn cứ trong quá trình giải quyết ly hôn và chia tài sản chung giữa anh và chị L từ năm 2008 đến nay. Anh và cả chị L luôn xác định thửa đất là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Việc ông B tự ý tặng cho thửa đất là trái quy định pháp luật vì ông B đã đồng ý chuyển nhượng thửa đất có diện tích 380m² cho anh và chị L vào năm 2001 (Việc chuyển nhượng có thể hiện bằng giấy chuyển nhượng đất ở có xác nhận của trưởng khu vực và chữ ký của các bên). Năm 2017, ông B lại thực hiện việc tặng cho đất diện tích 380m² này cho hai con gái là chị L và chị N là không đúng với quy định của pháp luật.
Về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng:
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
Căn cứ nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố (hoàn cảnh, công sức đóng góp...). Trong trường hợp này, tài sản chung của vợ chồng anh và chị L là thửa đất có diện tích 380m² (Tổng diện tích đất sau khi cộng lại tăng 4,6 m² so với diện tích ghi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: A 476141 số vào sổ: 576/QSDĐ ngày 5/11/1990, từ 380 m² lên 384,6 m²). Nếu chia theo quy định, mỗi người sẽ được 190m².
Tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 87/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2020 của TAND huyện Thanh Thủy: chị L đã được giao trực tiếp sử dụng phần đất có diện tích 192,6 m²; anh được giao trực tiếp sử dụng phần đất có diện tích 93,3m². Như vậy, phần chị L được hưởng đã đủ tài sản chung (thửa đất có diện tích 380m²), còn phần mà anh được hưởng còn thiếu, phần còn thiếu này chính là phần diện tích đất mà ông B đã tự ý tặng cho chị N 97,8m².
Ngày 28/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ kháng nghị với nội dung bản án sơ thẩm vi phạm:
- Thứ nhất: Bản án xác định anh Phan Văn T6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chưa chính xác bởi lẽ:
Anh Phan Văn T6 hiện đang sử dụng thửa đất diện tích 93,3m² có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của anh Phạm Văn T.
Như vậy, anh Phan Văn T6 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến tranh chấp của các đương sự trong vụ án này. Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh T6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này là chưa chính xác.
- Thứ hai:
Theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 87/2020/QĐST-HNGĐ ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy thể hiện: Giữa anh T và chị L “Tranh chấp tài sản sau ly hôn”. Nội dung quyết định thể hiện: Năm 2008 anh T và chị L giải quyết ly hôn và được TAND huyện Thanh Thủy ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 18/2008/QĐST-HNGĐ ngày 12/6/2008. Trong vụ án này anh chị chưa giải quyết về tài sản chung, nay anh chị đề nghị Tòa án giải quyết công nhận sự thỏa thuận của anh và chị L về vấn đề tài sản theo biên bản tự thỏa thuận phân chia tài sản ngày 15/8/2020: Hai bên có thửa đất 140, tờ bản đồ số 12, diện tích 285,9m² trong đó có 281,3m² đất ở nông thôn và 4,6m² đất trồng cây lâu năm tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ...Giao cho anh T trực tiếp sử dụng 93,3m² đất ở tại thửa đất 140, tờ bản đồ số 12 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL364414 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2017. Giao cho chị L trực tiếp sử dụng 192,6m² trong đó 188m² đất ở nông thôn và 4,6m² đất trồng cây lâu năm tại thửa đất 140 tờ bản đồ số 12 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL364414 do UBND huyện T cấp ngày 27/10/2017. Về tài sản riêng: 01 ngôi nhà cấp IV lợp tấm Proximang diện tích 70m² xây trên diện tích đất trên, đây là tài sản riêng của chị Hoàng Thị L.
Như vậy, anh T và chị L đã ly hôn từ năm 2008. Đến ngày 20/10/2017 chị L được ông B tặng cho một phần quyền sử dụng đất có diện tích là 285,9m² của thửa đất số 80, tờ bản đồ số 01 nay là thửa đất số 140 tờ bản đồ 12 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 27/10/2017 chị L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được ông B tặng cho này.
Đến năm 2020 tức là sau khi anh T với chị L đã ly hôn được hơn 10 năm giữa anh T và chị L phát sinh tranh chấp chia tài sản sau ly hôn. Khi Tòa án giải quyết vụ án “Tranh chấp tài sản sau ly hôn” giữa anh chị thì cả anh T và chị L đều thừa nhận quyền sử dụng đất được ông B tặng cho này là tài sản chung vợ chồng, còn ngôi nhà trên đất là tài sản riêng của chị. Điều đó đồng nghĩa với việc chị L đã thừa nhận quyền sử dụng đất này có nguồn gốc của anh chị trong thời kỳ hôn nhân.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ, đánh giá chứng cứ chưa toàn diện, khách quan liên quan đến thửa đất số 80 tờ bản đồ 01 nay là thửa đất số 140 và thửa 512 tờ bản đồ 12 tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; chưa có chứng cứ thuyết phục chứng minh lý do khi tranh chấp tài sản chung sau ly hôn anh T, chị L thỏa thuận thửa đất chị L được ông B tặng cho sau khi đã ly hôn lại là tài sản chung vợ chồng; việc thỏa thuận này có liên quan gì đến giấy chuyển nhượng thửa đất 80 tờ bản đồ 01 diện tích 380m² giữa ông B với vợ chồng anh T ngày 10/10/2001 hay không? Sau khi nhận chuyển nhượng của ông B năm 2001, anh T, chị B có xây dựng công trình kiên cố, trồng cây lâu năm và ông B có phản đối hay có bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai hay không? Từ đó có căn cứ xác định anh T có quyền hay không đối với diện tích 98,7m² thuộc thửa đất 512, tờ bản đồ số 12 tại khu A, xã H, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N.
- Thứ ba: Bản án sơ thẩm quyết định về án phí là chưa chính xác, cụ thể:
Anh Phạm Văn T có các yêu cầu khởi kiện đó là:
- Đề nghị Tòa xác định diện tích 98,7m² thuộc thửa đất 512, tờ bản đồ số 12 tại Khu A, xã H, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Văn T.
- Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn B và chị Hoàng Thị Hồng N do UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017, số chứng thực 236, quyển số 02-SCT/HĐ,GD. Đồng thời kiến nghị UBND huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đã cấp cho chị Hoàng Thị Hồng N.
Bản án nhận định, quyết định đối với các yêu cầu khởi kiện của anh T như sau:
“Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T về việc: Xác định diện tích 98,7m² thuộc thửa đất số 512, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N thuộc quyên sử dụng hợp pháp của anh Phạm Văn T.
Không chấp nhận yêu cầu của anh T về việc: Hủy Họp đồng tặng choquyền sử dụng đất chứng thực số 236, quyển số 02-SCT/HĐ,GD của UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017, giữa ông Hoàng Văn B với chị Hoàng Thị Hồng N”.
Như vậy, anh T khởi kiện hai mối quan hệ pháp luật khác nhau và Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết đối với cả hai mối quan hệ này. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chỉ buộc anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với các yêu cầu khởi kiện trên của anh T là chưa chính xác.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Phạm Văn T giữ nguyên kháng cáo, những căn cứ kháng cáo như đơn kháng cáo.
Viện kiểm sát giữ nguyên kháng nghị và những căn cứ kháng nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của VKS nhân dân tỉnh P, không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn T và sửa bản án dân sự sơ thẩm số:06/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy theo hướng không đưa anh Phan Văn T6 vào tham gia tố tụng, đưa bà Đặng Thị T2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và sửa về phần án phí dân sự sơ thẩm.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của anh Phạm Văn T là nguyên đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo: Anh Phạm Văn T kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm bởi các lý do nêu trên: Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xem xét đánh giá tính pháp lý của giấy chuyển nhượng đất ở ngày 10/10/2001 giữa ông Hoàng Văn B và anh Phạm Văn T:
Về hình thức: Theo quy định về hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, phải được làm thủ tục và đăng ký tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai. Theo đó bên chuyển quyền sử dụng đất chuyển giao đất, bên nhận quyền sử dụng đất trả tiền cho người chuyển nhượng. Căn cứ theo khoản 2 Điều 31 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: “Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất làm tại Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh”. Tuy nhiên, giấy chuyển nhượng đất giữa ông B và anh T chưa được thực hiện theo quy định trên. Do vậy, giấy chuyển nhượng đất ở ngày 10/10/2001 mà anh T xuất trình cho Tòa án không đảm bảo quy định của pháp luật về hình thức.
Về nội dung: Đối với chữ ký trong “Giấy chuyển nhượng đất ở” ngày 10/10/2001 mà anh T cung cấp cho Toà án, anh T cho rằng đó là chữ ký của ông B, tuy nhiên ông B khẳng định không phải chữ ký của ông. Tại Kết luận giám định của phòng K Công an tỉnh P đối với chữ ký “Báu” trong phần bên chuyển nhượng của “Giấy chuyển nhượng đất ở ngày 10/10/2001” thể hiện: Không đủ căn cứ để xác định đây có phải là chữ ký của ông Hoàng Văn B hay không. Do đó, không có căn cứ xác định việc ông B đã ký chuyển nhượng đất cho anh T theo “Giấy chuyển nhượng đất ở” ngày 10/10/2001.
Anh T cho rằng Giấy chuyển nhượng có xác nhận của trưởng khu là ông Đặng Văn T4. Tuy nhiên, lời khai của ông Đặng Văn T4 khẳng định: Chữ ký trong giấy chuyển nhượng đất ngày 10/10/2001 mà anh T cung cấp cho Toà án mặc dù đúng là chữ ký của ông, tuy nhiên khi đó anh T đánh máy, trong đó đã có sẵn chữ ký của ông B, anh T mang đến nhà ông T4 nhờ ông ký xác nhận, do ông tin tưởng là chữ ký của ông B nên ông ký vào luôn, chứ ông T4 không được chứng kiến việc thoả thuận mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông B và anh T. Nên không có căn cứ xác định ông Đặng Văn T4 là người làm chứng việc chuyển nhượng đất giữa ông B và anh T.
Đối với việc thanh toán tiền giá trị quyền sử dụng đất: Ông B khẳng định anh T chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho ông B. Anh T khẳng định đã thanh toán cho ông B số tiền 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm anh T không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào chứng minh có việc anh T đã thanh toán số tiền nhận chuyển nhượng đất ở cho ông B là 5.000.000 đồng.
Luật hôn nhân gia đình quy định tài sản trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, thửa đất tranh chấp là tài sản chung của ông B, bà T2. Tuy nhiên, giấy mua bán đất do anh T xuất trình cho Tòa án không có chữ ký của bà T2 là vợ ông B. Bà T2 xác định không biết gì về việc có giấy mua bán đất do anh T xuất trình cho Tòa án và ông B chưa bao giờ nói với bà về việc bán đất cho anh T. Bà T2 xác định không có việc ông bà bán đất cho anh T. Xét thấy, giấy chuyển nhượng đất ở đề ngày 10/10/2001 do anh T giao nộp cho Tòa án không đúng quy định về hình thức, về nội dung cũng không có căn cứ pháp lý, nên xác định không có việc mua bán chuyển nhượng đất giữa ông B và anh T. Bản án sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là có căn cứ, đúng pháp luật. Do vậy, kháng cáo của anh T không được chấp nhận.
Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ:
Thứ nhất: Bản án xác định anh Phan Văn T6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Xét thấy, anh Phan Văn T6 hiện đang sử dụng thửa đất diện tích 93,3m² có nguồn gốc nhận chuyển nhượng của anh Phạm Văn T.
Như vậy, anh Phan Văn T6 không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến tranh chấp của các đương sự trong vụ án này. Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh T6 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này là chưa chính xác. Nội dung kháng nghị này có căn cứ nên được chấp nhận.
Thứ hai: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh kháng nghị nội dung Tòa án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ từ đó có căn cứ xác định anh T có quyền hay không đối với diện tích 98,7m² thuộc thửa đất 512, tờ bản đồ số 12 tại khu A, xã H, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N.
Tại phiên tòa phúc thẩm, cả chị L và anh T đều thừa nhận sau ngày 10/10/2001 đến trước khi anh chị ly hôn anh chị không trồng cây lâu năm và xây dựng công trình gì trên đất mà chỉ ở trên ngôi nhà do ông B xây dựng. Như vậy, mặc dù đối với thửa đất 140 tờ bản đồ số 12 diện tích 285,9m² trong đó có 281,3m² đất ở nông thôn và 4,6m² đất trồng cây lâu năm tại khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ chị L và anh T thỏa thuận đó là tài sản chung vợ chồng nhưng đó là sự tự nguyện của chị L, không xuất phát từ việc anh chị nhận chuyển nhượng của ông B từ năm 2001 như anh T trình bày.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Viện kiểm sát kháng nghị về việc Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ. Tòa án cấp phúc thẩm đã thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ như các nội dung trong kháng nghị. Xét thấy sau khi thu thập bổ sung tài liệu chứng cứ nhận thấy quyết định của bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T là có căn cứ.
Thứ ba: Bản án sơ thẩm quyết định về án phí là chưa chính xác, cụ thể:
Anh Phạm Văn T có các yêu cầu khởi kiện đó là:
Đề nghị Tòa xác định diện tích 98,7m² thuộc thửa đất 512, tờ bản đồ số 12 tại Khu A, xã H, huyện T đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Phạm Văn T.
Đề nghị Tòa án tuyên hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Hoàng Văn B và chị Hoàng Thị Hồng N do UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017, số chứng thực 236, quyển số 02-SCT/HĐGD. Đồng thời kiến nghị UBND huyện T thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đã cấp cho chị Hoàng Thị Hồng N.
Như vậy, anh T khởi kiện hai mối quan hệ pháp luật khác nhau và Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết đối với cả hai mối quan hệ này. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm chỉ buộc anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm đối với các yêu cầu khởi kiện trên của anh T là chưa chính xác. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy anh T khởi kiện hai mối quan hệ, tuy nhiên cùng một đối tượng do vậy bản án sơ thẩm chỉ buộc anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với pháp luật. Nên nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát không được chấp nhận.
[3] Về án phí phúc thẩm: Anh T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.
Xét thấy, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với bản án sơ thẩm về việc đưa anh T6 vào tham gia tố tụng trong vụ án không chính xác là có căn cứ được chấp nhận. Tuy nhiên, việc bản án sơ thẩm đưa anh T6 vào tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án cũng không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự nên chấp nhận một phần nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát với nhận định trên, nhưng giữ nguyên nội dung quyết định của bản án sơ thẩm.
Vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa anh T với ông B (chồng bà T2), nhưng bản án sơ thẩm không đưa bà Đặng Thị T2 là vợ ông Hoàng Văn B vào tham gia tố tụng. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bà T2 trình bày không có ý kiến gì về việc sơ thẩm không đưa bà vào tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của bà T2 cũng không bị ảnh hưởng. Để đảm bảo quyền lợi cho bà T2, bản án phúc thẩm đưa bà T2 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do vậy, cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm về nội dung thiếu sót này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của anh Phạm Văn T. Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ về việc đưa thừa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng trong vụ án. Giữ nguyên nội dung quyết định bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2023/DS-ST ngày 29/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
[2]. Áp dụng: Điều 707 bộ luật dân sự năm 1995; Điều 459 BLDS 2015; Khoản 1, 3 Điều 167 Luật đất đai 2013; Khoản 2 Điều 31 Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2001; Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[3]. Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T về việc: Xác định diện tích 98,7m² thuộc thửa đất số 512, tờ bản đồ số 12, địa chỉ: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú thọ do UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CL 364413 ngày 27/10/2017 đứng tên chị Hoàng Thị Hồng N thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anh Phạm Văn T;
Không chấp nhận yêu cầu của anh T về việc: Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chứng thực số 236, quyển số 02-SCT/HĐ,GD của UBND xã H chứng thực ngày 20/10/2017 giữa ông Hoàng Văn B với chị Hoàng Thị Hồng N.
[4]. Về án phí và chi phí tố tụng:
Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2020/0006113 ngày 06/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, nay chuyển thành án phí.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2020/0006245 ngày 21/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Về chi phí tố tụng: Anh Phạm Văn T phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí giám định chữ viết, xác nhận anh T đã nộp đủ.
“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
[5]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Điêu Thị Bích Lượt |
Bản án số 77/2023/DS-PT ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 77/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T - Hoàng Văn B - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ
