Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày: 29/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thanh Nga
  2. Bà Đinh Kim Hoàng

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phạm Mỹ V; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10/9/1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 32AG N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: A N, Phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Phạm Thế M (chết) và bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1975; Có chồng tên Nguyễn Hồng S, sinh năm 1994 (không đăng ký kết hôn) và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh ngày 12/9/2022; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 29/12/2023 đến nay “Có mặt”

2. Nguyễn Thành D; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/6/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: 1 D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện nay: 1 D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Chạy xe ôm; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1953 và bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1959; Có vợ tên Đồng Kim T, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2010; Tiền án: Ngày 29/6/2018 bị Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023; Tiền sự: Không có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2023 đến nay “Có mặt”

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Sơn Thị T1, sinh năm 1979; “Vắng mặt”

Địa chỉ: 1 D, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Mỹ V là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 24/12/2023, V biết Nguyễn Thành D hành nghề “xe ôm” tại khu vực cầu C, Phường B, Quận H có biết chỗ bán ma túy nên đến nhờ D chở đi mua giùm. V đưa cho D 250.000 đồng, trong đó 200.000 đồng tiền mua ma túy và 50.000 đồng tiền công rồi leo lên xe cho D chở đi. D điều khiển xe gắn máy biển số 63FN-0292 chở V đến hẻm C N, Phường A, Quận D. Tại đây, D gặp và mua của Văn Thị Thùy L2 02 tép ma túy Heroine giá 200.000 đồng. D nhận lấy 02 tép ma túy rồi chở V về. Sau đó, D đưa 02 tép ma túy Heroine cho V cất giữ trong tay phải. Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi D chở V về trước số B Đ, Phường A, Quận D thì bị Tổ tuần tra Công an Q1 thấy có biểu hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. V thấy Công an liền ném 02 tép ma túy đang cầm trên tay phải xuống đường thì bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ, đưa V, D về trụ sở Công an P, Quận D để làm rõ, lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 415/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: Bột màu trắng trong 02 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thành D, Phạm Mỹ V và hình dấu Công an P, Quận D là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1919 gam, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thành DPhạm Mỹ V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đối với Văn Thị Thùy L2 đã bán ma túy cho Nguyễn Thành D hiện đang bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy – Công an Thành phố H (PC04) khởi tố bị can và tạm giam để điều tra về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” do Công an Thành phố H thụ lý và vụ án xảy ra trên địa bàn Quận D.

Đối với xe gắn máy WAVE màu đỏ-đen, biển số 63FN-0292 do Nguyễn Thành D sử dụng làm phương tiện phạm tội, D mượn của chị dâu là Sơn Thị T1 để chạy xe ôm. Qua xác minh xe trên do ông Nguyễn Văn Q đứng tên sở hữu. Ông Q đã chết và con ông Q là Nguyễn Thị D1 đã bán xe cho người không rõ lai lịch. Sơn Thị T1 mua xe của người không rõ lai lịch và không có làm giấy tờ. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho đăng báo tìm người có liên quan đến xe WAVE màu đỏ-đen, biển số 63FN-0292 nhưng chưa có ai đến nhận nên tạm giữ xe chờ giải quyết.

Vật chứng và vật hiện đang tạm giữ:

  1. Tạm giữ của Phạm Mỹ V:
    • 01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D và hình dấu của Công an P, Quận D. Bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau khi giám định.
    • 550.000 đồng là tiền cá nhân của V.
  2. Tạm giữ của Nguyễn Thành D:
    • 01 xe máy WAVE màu đỏ-đen, biển số 63FN-0292.
    • 01 điện thoại di động SAMSUNG J2 Prime màu vàng, số Imeil: 357623084014867, số Imei2: 357624084014865 và 01 điện thoại di động HUAWEI màu đỏ, số Imeil: 867615045820419, số I: 867615045860423, là các điện thoại cá nhân của D.
    • 70.000 đồng là tiền cá nhân của D.

Tang vật nêu trên, Viện kiểm sát có Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 chờ xử lý.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSQ4 ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Thành D bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Các bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Phạm Mỹ V mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với V; Nguyễn Thành D mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo D từ 5.000.000 (năm triệu) đồng đến 5.500.000 (năm triệu năm trăm nghìn) đồng; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Các bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, phù hợp với sự thật khách quan của vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 20 phút ngày 24/12/2023, tại trước số B Đ, Phường A, Quận D, Phạm Mỹ V bị Công an Q1 phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giữ 0,1919 gam ma túy Heroine nhằm mục đích sử dụng nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Nguyễn Thành D có hành vi giúp sức cho V để mua ma túy nên đồng phạm với V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 đối với các bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[3] Đây là vụ án hình sự có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo V là người thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo D có vai trò giúp sức cho V thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bị cáo D bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D và hình dấu của Công an P, Quận D. Bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau khi giám định.
  • Trả lại cho bị cáo V: 550.000 đồng là tiền cá nhân của V, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Trả lại cho bị cáo D: 01 điện thoại di động SAMSUNG J2 Prime màu vàng, số Imeil: 357623084014867, số Imei2: 357624084014865 và 01 điện thoại di động HUAWEI màu đỏ, số Imeil: 867615045820419, số I: 867615045860423, là các điện thoại cá nhân của D và 70.000 đồng là tiền cá nhân của D, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • 01 xe gắn máy WAVE màu đỏ-đen, biển số 63FN-0292: Tiếp tục đăng báo tìm kiếm người liên quan đến chiếc xe máy trên trong thời hạn 02 tháng, hết thời hạn trên mà không có ai đến liên hệ thì trả lại cho bà Sơn Thị T1.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 79/2024 ngày 24/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 và Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước ngày 09/4/2024)

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phạm Mỹ V 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

- Áp dụng Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành D 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023.

- Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D và hình dấu của Công an P, Quận D. Bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau khi giám định.
  • Trả lại cho V: 550.000 đồng là tiền cá nhân của V, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • Trả lại cho D: 01 điện thoại di động SAMSUNG J2 Prime màu vàng, số Imeil: 357623084014867, số Imei2: 357624084014865 và 01 điện thoại di động HUAWEI màu đỏ, số Imeil: 867615045820419, số I: 867615045860423, là các điện thoại cá nhân của D và 70.000 đồng là tiền cá nhân của D, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • 01 xe gắn máy WAVE màu đỏ-đen, biển số 63FN-0292: Tiếp tục đăng báo tìm kiếm người liên quan đến chiếc xe máy trên trong thời hạn 02 tháng, hết thời hạn trên mà không có ai đến liên hệ thì trả lại cho bà Sơn Thị T1.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 79/2024 ngày 24/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 4 và Giấy nộp tiền vào Kho bạc nhà nước ngày 09/4/2024)

- Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc mỗi bị cáo Phạm Mỹ V, Nguyễn Thành D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
  • Sở Tư pháp TP.HCM;
  • Công an TP.HCM;
  • Viện kiểm sát nhân dân Quận 4;
  • Công an Quận 4;
  • Các bị cáo;
  • Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4;
  • Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM

PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử 02 bị cáo 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger