Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29 – 5 – 2024

V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Minh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Liên

2. Bà Nguyễn Thị Bạn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Huyền T, sinh năm 2000

Địa chỉ: Số D thôn C, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Nhật Trường P, sinh năm 1998

Địa chỉ: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T trình bày:

Tôi và ông Nguyễn Nhật Trường P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, TP ., tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/11/2020. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống nên sinh ra cãi vã nhau, ông Nguyễn Nhật Trường P không chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng không hoà thuận, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng kéo dài và chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Nhật Trường P nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Nguyễn Nhật Trường P.

Về con chung: Tôi và ông Nguyễn Nhật Trường P không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tôi và ông Nguyễn Nhật Trường P không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Nhật Trường P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Nhật Trường P vắng mặt không tham gia tố tụng.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền, xác định tư cách tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án, thời hạn xét xử đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 97, từ Điều 171 đến Điều 174, Điều 177, Điều 203, Điều 205, từ Điều 207 đến Điều 211, Điều 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 220 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Bùi Thị Huyền T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Huyền T được ly hôn với ông Nguyễn Nhật Trường P.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

  1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

    Bà Bùi Thị Huyền T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa bà với ông Nguyễn Nhật Trường P, đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn ông Nguyễn Nhật Trường P có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

  2. Về thủ tục tố tụng:

    Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn ông Nguyễn Nhật Trường P nhưng ông Nguyễn Nhật Trường P không tham gia tố tụng, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

    Tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Nhật Trường P vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do vậy Toà án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

  3. Về các yêu cầu của đương sự:

    - Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, TP ., tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/11/2020, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống bà Bùi Thị Huyền T xác định vợ chồng hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do bất đồng quan điểm sống nên sinh ra cãi vã nhau, ông Nguyễn Nhật Trường P không chăm lo cho gia đình dẫn đến vợ chồng không hoà thuận, không có tiếng nói chung. Mâu thuẫn ngày càng căng thẳng kéo dài và đã sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Nhật Trường P nên đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với ông Nguyễn Nhật Trường P.

    Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P sinh sống đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã nhau, đã sống ly thân.

    Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P có xảy ra, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Bà Bùi Thị Huyền T đã cương quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Nhật Trường P, vì vậy nếu kéo dài quan hệ hôn nhân thì không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Bùi Thị Huyền T, giải quyết cho bà Bùi Thị Huyền T được ly hôn với ông Nguyễn Nhật Trường P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

    - Về con chung: Bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P không có không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    - Về tài sản chung và nợ chung: Bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P không có không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

  4. Về án phí:

    Bà Bùi Thị Huyền T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T.

  1. Về quan hệ hôn nhân:Bùi Thị Huyền T được ly hôn với ông Nguyễn Nhật Trường P.
  2. Về con chung:Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Nhật Trường P không có, không yêu cầu nên không giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung:Bùi Thị Huyền T không yêu cầu nên không giải quyết.
  4. Về án phí:Bùi Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp (Bà Lê Thị Bích H nộp thay) theo biên lai số AA/2023/0005064 ngày 03/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. BMT; Tỉnh;
  • - CCTHADS TP. BMT;
  • - UBND phường Khánh Xuân,
  • TP. BMT, tỉnh Đắk Lắk (Giấy
  • chứng nhận kết hôn số 169
  • ngày 16/11/2020);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Đại Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger