|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI Bản án số 77/2023/HSST Ngày 28/8/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Lưu Ngọc Hưng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Trần Bích Thủy |
| Bà Nguyễn Thị Vân | |
| Thư ký phiên toà: Bà Doãn Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây. | |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Bà Lã Thị Loan - Kiểm sát viên. | |
Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 79/2023/HSST ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
LÒ VĂN B, sinh năm 1996; ĐKHKTT: Bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; con ông: Lò Văn M, sinh năm 1970 (đã chết) và bà: Lò Thị X, sinh năm 1973; vợ: Lò Thị H, sinh năm 1998, con: 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: Ngày 28/5/2021 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xử phạt Lò Văn B 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị can chấp hành xong án phạt tù ngày 30/11/2022, như vậy bản án này chưa được xóa án tích; tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Chấp hành xong tháng 7/2020; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/5/2023 đến nay tại Trại giam S Công an thành phố H, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn B: Bà Nguyễn Thu N, Trợ giúp viên pháp lý- Chi nhánh T1 pháp lý số 01, Trung tâm T2, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biễn tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lò Văn Ba sinh 1996 trú tại xã N huyện S, tỉnh Lai Châu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Cuối tháng 5/2023 Ba đến địa bàn thị xã S tìm việc làm. Khoảng 10 giờ ngày 27/5/2023 do muốn sử dụng ma túy nên Ba bắt taxi từ xã C ra khu V tìm mua ma túy, khi đến địa bản phường L, Ba nhìn thấy một người đàn ông trông giống người nghiện nên xuống xe hỏi mua ma túy giá 100.000đ, người đàn ông đồng ý cầm tiền rồi đưa lại cho Ba một vỏ bao thuốc lá bên trong có 02 gói ni lông chứa chất bột mầu trắng. Sau khi mua được ma túy, B cầm ở tay rồi lên xe taxi tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực V, Ba xuống xe đi vệ sinh, cùng lúc này Công an phường Lễ L đi tuần tra thấy Ba có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra phát hiện hành vi tàng trữ ma túy của Lò Văn B.
Tang vật thu giữ: 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn bên trong có 02 gói ni lông chứa chất bột mầu trắng thu giữ trên tay phải của Lò Văn B.
Ngày 27/5/2023 cơ quan điều tra Công an thị xã S ra quyết định cầu giám định số ma túy thu giữ khi bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 3451-PC09 ngày 03/6/2023 của phòng K Công an T kết luận:
- Chất bột mầu trắng bên trong 02 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,170 gam;
- Về nguồn gốc ma túy Lò Văn B mua của một nam giới không biết tên, địa chỉ ở khu vực Kho bạc Nhà nước thuộc địa bàn phường L, thị xã S. Cơ quan điều tra cũng đã xác minh, rà soát nhưng không có căn cứ làm rõ người bán ma túy cho Ba để xử lý theo quy định.
Đối với Khuất Văn D lái xe taxi chở Ba ngày 27/5/2023. Khi thuê xe Ba không nói và anh D không biết B đi mua ma túy - nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Vật chứng chuyển theo hồ sơ: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an T được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây để bảo quản.
Tại Bản cáo trạng số 80/CT-VKS ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã truy tố Lò Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn B từ 21 đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố H, bên ngoài có chữ ký của Vũ Việt C, Lê Hoàng T, Lò Văn B;
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo được đưa ra các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định của pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn B đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Xét về chứng cứ đã có cơ sở để kết luận:
Ngày 27/5/2023, Lò Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,170 gam ma túy loại Heroin tại khu vực vườn hoa trung tâm Thị xã thuộc địa bàn phường L, thị xã S thì bị tổ công tác Công an phường L phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Lò Văn B là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lò Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát truy tố là đúng.
- Xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo tuy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về quản lý chất ma túy.
Đối với bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội là nghiêm trọng. Do đó, Tòa án cần phải xử lý nghiêm mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lò Văn B có nhân thân xấu, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 30/11/2022 chưa được xóa án tích. Hành vi phạm tội lần này thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo vừa được trở về địa phương sau thời gian chấp hành án phạt tù nhưng không chịu rèn luyện bản thân, từ bỏ ma túy để trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo lại tiếp tục hành vi tàng trữ ma túy do vậy cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên ở giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải, bị cáo cư trú ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự: Bị cáo không đủ điều kiện để được tự cải tạo ngoài xã hội mà cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về việc xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở để chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố H, bên ngoài có chữ ký của Vũ Việt C, Lê Hoàng T, Lò Văn B bên trong chứa ma túy Heroin thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Về các vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc ma túy Lò Văn B mua của một nam giới không biết tên, địa chỉ ở khu vực Kho bạc Nhà nước thuộc địa bàn phường L, thị xã S. Cơ quan điều tra cũng đã xác minh, rà soát nhưng không có căn cứ làm rõ người bán ma túy cho Ba để xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Khuất Văn D lái xe taxi chở Ba ngày 27/5/2023. Khi thuê xe Ba không nói và anh D không biết B đi mua ma túy - nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về tội danh: Bị cáo Lò Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Về hình phạt:
Xử phạt: Lò Văn Ba 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2023
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an thành phố H, bên ngoài có chữ ký của Vũ Việt C, Lê Hoàng T, Lò Văn B.
(Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2023)
Về án phí: Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lưu Ngọc Hưng |
Bản án số 77/2023/HSST ngày 28/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 77/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn B tàng trữ trái phép chất ma túy
