TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 28 - 05 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Và Dưỡng;
- Ông Nguyễn Văn Đoàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
***
Hôm nay, ngày 28 tháng 05 năm 2024, tại Hội trường xét xử A, tầng trệt – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 53/2024/QĐXXST-QĐ ngày 08 tháng 04 năm 2024, Thông báo về việc dời phiên tòa số 20/2024/TB- TA ngày 06 tháng 05 năm 2024 và Thông báo về việc dời phiên tòa số 21/2024/TB- TA ngày 23 tháng 05 năm 2024 đối với:
- Bị cáo Phạm Minh T, sinh ngày 09/12/1997 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú trước khi bị bắt: ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Chí T1, sinh năm 1972 và Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1970; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự: không;
Về Tiền án: Ngày 26/5/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo bản án số 42/2020/HS-ST ngày 26/05/2020.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 11/11/2022 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, tạm giam Công an huyện Đ từ đó cho đến nay.
- Nguyên đơn dân sự: Tổng công ty T6 – Công ty cổ phần ().
Địa chỉ: Số A, đường N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985 (Cửa hàng trưởng Cửa hàng xăng dầu số A Đồng Nai).
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Theo giấy ủy quyền ngày 04/05/2024.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985 (Cửa hàng trưởng Cửa hàng xăng dầu số A Đồng Nai).
Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
- - Anh Đỗ Văn V, sinh năm 1983.
- - Anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1989.
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo T, anh T3, anh V và anh T4 có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần (Viết tắt là Tổng công ty) là công ty cổ phần có vốn điều lệ của Tổng Công ty D1 – công ty cổ phần (công ty cổ phần (), trong đó có kinh doanh, buôn bán xăng dầu. Ngày 30/9/2019, Phạm Minh T được cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo nghiệp vụ về bảo vệ môi trường trong kinh doanh xăng dầu, ngày 02/3/2020, Phạm Minh T đã ký Hợp đồng lao động số 05/2020/HĐLĐ với Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần, theo nội dung hợp đồng lao động thể hiện: Chức danh chuyên môn là Công nhân bán lẻ xăng dầu (Viết tắt là nhân viên), công việc phải làm là theo sự điều hành, phân công của Cửa hàng trưởng Cửa hàng X Đồng Nai (Viết tắt Cửa hàng), địa chỉ Cửa hàng ở ấp B, xã P, huyện Đ (do anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1985, trú tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai là Cửa hàng trưởng); thời hạn hợp đồng từ ngày 01/3/2020 đến ngày 29/02/2023; Quyền và nghĩa vụ của người lao động quy định tại Điều 3 hợp đồng lao động (Ngoài ra còn quy định tại Điều 6 Quyết định số 004709/QĐ-PTC ngày 17/10/2017 v/v ban hành quy chế quản lý hoạt động bán lẻ xăng dầu). Việc tổ chức hoạt động bán hàng tại Cửa hàng xăng dầu, Quy định về chấp hành mệnh lệnh điều hành kinh doanh và việc thu nộp tiền trường hợp cửa hàng xăng dầu ở xa địa nộp tiền quy định lần lượt tại Điều 12, 17 và Điều 14 Nội quy lao động của Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần ngày 04/11/2021).
Sau khi ký kết hợp đồng, bị cáo T được phân công nhiệm vụ là Công nhân bán lẻ xăng dầu theo sự điều hành, phân công của Cửa hàng X Đồng Nai là anh Nguyễn Văn T3. Tại Cửa hàng, ông T3 là người phân công, sắp xếp ca trực nhân viên kiêm bảo vệ, mỗi ca trực gồm có 02 người, mỗi người làm 02 ngày thì sẽ được nghỉ một ngày; mỗi ngày bắt đầu từ 06 giờ sáng mở cửa bán hàng đến 20 giờ tối thì đóng cửa, cửa hàng trưởng sẽ chốt số và tính tiền bán hàng trong ngày với nhân viên. Từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần, lúc 15 giờ chiều, anh T3 sẽ trực tiếp chột số với nhận viên trong ca trực và đem tiền bán hàng có mệnh giá từ 100.000 đồng trở lên nộp vào tài khoản của Công ty tại Ngân hàng A; còn sau 15 giờ trở đi thì nhân viên tự quản và chốt sổ với nhau và quản lý tiền. Cửa hàng có 03 nhân viên bán hàng nên anh T3 phân công, sắp xếp mỗi người trực 02 ngày, được nghỉ 01 ngày và trong ca trực khi có nhân viên nghỉ ca trực sẽ có nhân viên tiếp tục làm ca ngày thứ hai thay thế nhân viên được nghỉ ca. Riêng ngày thứ bảy, chủ nhật do ngân hàng không làm việc nên anh T3 không trực, không mang tiền đi chuyển khoản về Tổng công ty, nhân viên trong ca trực sau khi bán hàng thì tự quản lý tiền bán hàng, đến sáng ngày thứ 2, anh T3 mới đến cửa hàng tiếp nhận tiền bán hàng của ngày thứ 7, chủ nhật. Ngày 16/01/2021, anh T3 phân công anh Nguyễn Thanh T4 và anh Đỗ Văn V trực, còn ngày 17/01/2021 phân công anh V và bị cáo T trực bán hàng. Số tiền bán hàng ngày 16/1/2021 đến 20 giờ ngày 17/1/2021, tổng cộng 184.755.000 đồng (Trong tiền bán hàng trong ca trực của anh V và T4 ngày 16/1/2021 là 102.433.000 đồng, còn T và anh V chốt số tiền bán hàng trong ngày 17/1/2021 là 82.322.000 đồng). Do ngày 17/1/2021, ca trực của anh V và bị cáo T nên có trách nhiệm quản lý số tiền trên, còn anh V có trách nhiệm báo cáo lại số tiền tồn tại cửa hàng lại cho anh T3. Sau đó, do có việc phải đi về nhà nên anh V bỏ số tiền 184.755.000 đồng vào túi nylon giao cho T quản lý. Đến khoảng 03 giờ ngày 18/01/2021, T sử dụng Zalo tên “Phạm T” với số 0334639930 nhắn tin vào tài khoản zalo của anh Nguyễn Văn T3 với nội dung là đã lấy tiền của cửa hàng bỏ đi xa và xin lỗi anh T3. Khi nhận được tin nhắn, anh T3 cùng với anh V và anh T4 đi đến cửa hàng kiểm tra trên đầu giường ngủ trong phòng nhân viên còn 64.755.000 đồng và bị mất 120.000.000 đồng, còn T đã bỏ trốn. Số tiền 120.000.000 đồng đã lấy, bị cáo T khai dùng 115.000.000 đồng để trả nợ, còn 5.000.000 đồng còn lại tiêu sài cá nhân.
Hành vi của bị cáo T đã chiếm đoạt số tiền 120.000.000 đồng của Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần.
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Minh T đã bỏ trốn khỏi địa phương nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã ra Quyết định truy nã bị can số 01/CSĐT ngày 27/12/2021 và ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can. Đến ngày 11/11/2022, Phạm Minh T bị bắt.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Minh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nêu trên (bút lục số 29 đến 33, 35, 46 đến 63, 68, 80 đến 94, 97 đến 116).
Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1970, trú tại ấp B, xã P, huyện Đ (là mẹ ruột của T) đã tự nguyện bồi thường 10.000.000 đồng cho Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần. Anh Nguyễn Văn T3 (là quản lý của hàng xăng dầu số 1 và là người đại diện theo ủy quyền của Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phầ() đã nhận số tiền trên và yêu cầu bị cáo Phạm Minh T phải trả lại 110.000.000 đồng đã chiếm đoạt còn lại (bút lục số 69 đến 72, 95).
Tại Cáo trạng số 195/CT/VKSĐQ ngày 19/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Phạm Minh T về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 46, 48 và Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; tổng hợp hình phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của Bản án số 42/2020/HS-ST ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án và buộc bị cáo phải bồi thường cho Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần ( tiền 110.000.000 đồng đã chiếm đoạt.
Tại phiên toà, bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, không có ý kiến, tranh luận đối Cáo trạng truy tố bị cáo, phần trình bày luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đồng ý bồi thường cho Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần ( 110.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt còn lại.
Tại phiên toà, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn dân sự và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 110.000.000 đồng còn lại mà bị cáo T đã chiếm đoạt cho Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần; ngoài ra không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và không có ý kiến đối với Cáo trạng, tranh luận của đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất có thể cho bị cáo T.
Tại phiên toà, những người làm chứng gồm anh Đỗ Văn V, Nguyễn Thanh T4 giữ nguyên các lời khai của mình tại cơ quan điều tra và cam kết, chịu nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình hoàn toàn đúng sự việc như nội dung bản Cáo trạng truy tố; ngoài ra không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai quy định tại Điều 280, 281 và khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự và những người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng gồm Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
[2.1] Những chứng cứ xác định hành vi bị truy tố có tội và tội danh:
Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo Phạm Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào ngày 17/01/2021, trong ca trực của mình tại Cửa hàng X Đồng Nai thuộc Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phầ( ở ấp B, xã P, huyện Đ, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao quản lý số tiền bán hàng, Phạm Minh T đã chiếm đoạt 120.000.000 đồng tại Cửa hàng xăng dầu số A Đồng Nai bán xăng dầu trong các ngày 16 và 17/1/2021 rồi bỏ trốn và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong Biên bản kiểm tra điện thoại, nhật ký bán hàng, bảng kiểm kê tiền tính đến 20 giờ ngày 17/1/2021, bản tường trình sự việc của người liên quan anh Nguyễn Văn T3, hợp đồng lao động, Quyết định v/v ban hành quy chế quản lý hoạt động bán lẻ xăng dầu quy chế, các biên bản hỏi cung bị cáo T, bản tự khai/bản tường trình của bị cáo T; các biên bản ghi lời khai người liên quan anh Nguyễn Văn T3, các biên bản ghi lời khai người làm chứng gồm anh Nguyễn Thanh T4, Đỗ Văn V cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi do bị cáo Phạm Minh T thực hiện trong vụ án đã phạm tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 353 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2.2] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 26/5/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra, gia đình của bị cáo đã tự nguyện trả lại một phần tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt cho nguyên đơn dân sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật nhà nước ta.
[2.4] Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, đã có 01 Tiền án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội mới nên thuộc trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhận thức, hiểu biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi cá nhân, bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao quản lý số tiền bán hàng trong ca trực của mình, đã chiếm đoạt 120.000.000 đồng bán xăng dầu của Tổng Công ty T6 – Công ty cổ phần tại Cửa hàng X Đồng Nai để tiêu sài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra xã hội một thời gian để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật, đồng thời giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại và vấn đề dân sự:
Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, nguyên đơn dân sự Tổng công ty T6 - Công ty cổ phần () yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 110.000.000 đồng đã chiếm đoạt còn lại. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền trên cho nguyên đơn dân sự nên ghi nhận, buộc bị cáo T phải bồi thường 110.000.000 đồng cho Tổng công ty T6 – Công ty cổ phần ().
[5] Về án phí: Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 5.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[6] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Đối với phần trình bày luận tội của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với phần trình bày, lời nói sau cùng của bị cáo và phần trình bày của những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 46, 48 và Điều 56 Bộ luật hình sự;
Căn cứ các Điều 136, 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 280, 281, 292, 298, 299, 326, 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 588, 589 của Bộ luật dân sự;
Áp dụng Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Tham ô tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 01 (Một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của Bản án số 42/2020/HSST ngày 26/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 08 (T5) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2022.
2/ Về trách nhiệm dân sự và bồi thường:
Buộc bị cáo T phải bồi thường số tiền 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng) cho Tổng công ty T6 – Công ty cổ phần ().
Kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí sơ thẩm:
Buộc bị cáo T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
4. Bị cáo T, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thành Đạt |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh T phạm tội "Tham ô tài sản"
