|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2023/HNGĐ-ST Ngày: 27 - 10 - 2023 Về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc T*****
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Phi H*****
- Ông Sơn M*****
- Thư ký phiên tòa: Ông Ứng Văn T***** – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp không tham gia.
Trên ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim X*****, sinh năm 1989
Địa chỉ: số 67/16 đường Huỳnh Văn Đạt, khóm 4, phường Thành Phước, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Có mặt.
Bị đơn: Anh Võ Anh T*****, sinh năm 1989
Địa chỉ: Tổ 10, ấp Thạnh Lý, xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện đề ngày 17/7/2023 và qua quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim X***** trình bày:
Chị và anh Võ Anh T***** do quen biết nhau và sau thời gian tìm hiểu cả hai đã quyết định tiến tới hôn nhân, có tổ chức tiệc cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 31/12/2016.
Sau khi kết hôn chị Nguyễn Thị Kim X***** và anh Võ Anh T***** sống chung với nhau tại ấp Thạnh Lý, xã Đông Thạnh, thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long và có hai người con chung là cháu Võ Anh T*****, sinh ngày 01/11/2014 và cháu Võ Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 12/12/2017. Thời gian đầu cả hai chung sống với nhau hạnh phúc nhưng về sau này chị Nguyễn Thị Kim X***** và anh Võ Anh T***** không cùng quan điểm, không thể hiểu cho nhau nên thường xảy ra mâu thuẫn khiến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng. Vì thương chồng con nên chị Kim X***** luôn cố chịu đựng để cho qua mọi chuyện nhưng cả hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung.
Hiện tại, chị Kim X***** đã sống ly thân với anh Võ Anh T***** từ khoảng tháng 02/2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị Kim X***** quyết định nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Võ Anh T***** để giải thoát cho cả hai.
Về con chung: Chị X***** yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi hai con chung: cháu Võ Anh T*****, sinh ngày 01/11/2014 và cháu Võ Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 12/12/2017.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim X***** yêu cầu anh Võ Anh T***** cấp dưỡng nuôi con với số tiền 3.000.000 đồng/tháng đến khi hai con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Kim X***** không yêu cầu.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Kim X***** trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, do mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc do chị phát hiện anh Anh T***** có người phụ nữ khác bên ngoài, anh chị đã sống ly thân từ khoảng tháng 02/2022 cho tới nay, nên chị yêu cầu như sau:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Kim X***** yêu cầu được ly hôn với Anh T*****.
- - Về con chung: Có hai người con chung là cháu Võ Anh T*****, sinh ngày 01/11/2014 và cháu Võ Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 12/12/2017. Sau khi ly hôn, chị Kim X***** yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim X***** xin rút lại yêu cầu này.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về nội dung vụ án:
[1.1] Về trình tự thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, Bị đơn vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, việc vắng mặt của bị đơn là không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử.
[1.2] Về quan hệ hôn nhân:
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim X*****, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Giữa chị và Anh T***** do tự tìm hiểu rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã Đông Thạnh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 75 vào ngày 31/12/2016. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn thường xuyên xảy ra cãi vã, Chị X***** trình bày, chị phát hiện anh Anh T***** có người phụ nữ khác bên ngoài, nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, chị và Anh T***** đã sống ly thân từ khoảng tháng 02/2022 cho tới nay, nên chị quyết định xin ly hôn với Anh T*****.
Từ đó nhận thấy, đời sống hôn nhân giữa hai anh chị đã rơi vào tình trạng bế tắc trầm trọng, không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình. Vì vậy, xét yêu cầu xin ly hôn của chị Kim X***** là có cơ sở để chấp nhận, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Kim X***** được ly hôn với anh Anh T*****
[1.3] Về con chung: Giữa chị Kim X***** và Anh T***** có hai người con chung là cháu Võ Anh T*****, sinh ngày 01/11/2014 và cháu Võ Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 12/12/2017. Hiện tại hai cháu đang sống chung với Chị X*****. Chị Kim X***** trình bày có thu nhập ổn định đảm bảo để nuôi dưỡng hai cháu. Vì vậy, xét yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Kim X***** là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận để hai cháu Võ Anh T***** và cháu Võ Ngọc Bảo Trâm cho chị Nguyễn Thị Kim X***** được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Võ Anh T***** không trực tiếp nuôi con nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[1.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Kim X***** xin rút lại yêu cầu này, xét đây là sự tự nguyện, đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của Chị X*****.
[1.5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Kim X***** không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2] Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Kim X***** phải nộp 300.000 đồng, khẩu trừ số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001978 ngày 17/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị Kim X***** đã nộp xong.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 107 và 110 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 147 và 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim X*****.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Kim X***** được ly hôn với anh Võ Anh T*****
1.2. Về con chung: Giao hai cháu Võ Anh T*****, sinh ngày 01/11/2014 và cháu Võ Ngọc Bảo Trâm, sinh ngày 12/12/2017 cho chị Nguyễn Thị Kim X***** được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Võ Anh T***** không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
1.3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Kim X*****.
1.4. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Kim X***** phải nộp 300.000 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0001978 ngày 17/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, nên chị Kim X***** đã nộp xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự biết, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc T***** |
Bản án số 77/2023/HNGĐ-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 77/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xuyến - Thư
