|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/9/2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mý và ông RChâm Đương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị H; địa chỉ: Làng Ú, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn Q; địa chỉ: Làng Ú, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị H và ông Đỗ Văn Q xác lập quan hệ hôn nhân tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 19/7/2010 tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Sau khi kết hôn, bà H và ông Q chung sống hạnh phúc cùng bố, mẹ chồng tại làng Ú, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn thì bà H và ông Q thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do hằng ngày ông Q không tìm kiếm việc làm phụ giúp gia đình mà chỉ biết uống rượu nên mọi việc trong gia đình đều do bà H phải thực hiện. Nhiều lần ông Q uống rượu bị té ngã phải đi điều trị nhưng sau đó không từ bỏ mà vẫn tiếp tục, lúc say về nhà ông Q còn có lời lẽ xúc phạm bà H. Sự việc diễn ra nhiều lần, bà H và người thân trong gia đình đã khuyên ông Q nên từ bỏ việc uống rượu nhưng không có kết quả. Hiện nay, bà H không còn tình cảm với ông Q nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Q.
- Về con chung: Bà Đinh Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Ngọc Tường V, sinh ngày 19/4/2011 và cháu Đỗ Bảo N, sinh ngày 19/9/1012. Bà Đinh Thị H không yêu cầu ông Đỗ Văn Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà Đinh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến; không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt theo yêu cầu triệu tập của Tòa án nên chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bà Đinh Thị H và ông Đỗ Văn Q đều đủ điều kiện kết hôn, tự nguyện đăng ký kết hôn và chung sống cùng nhau nên hôn nhân hợp pháp. Do mâu thuẫn xảy ra trong đời sống hôn nhân, bà H muốn ly hôn với ông Q để chấm dứt quan hệ hôn nhân nên có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại: Làng Ú, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai nên Tòa án nhân dân huyện Ia Grai thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu giải quyết về ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn với bị đơn, ngoài ra không yêu cầu nội dung nào khác nên quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng đã vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa, việc vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn:
Căn cứ lời trình bày của nguyên đơn; các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được thể hiện: Sau khi kết hôn, bà H và ông Q chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông Q không quan tâm đến gia đình mà thường ngày liên tục uống rượu say sưa, không kiểm soát được lời nói và hành động nên nhiều lần chưởi mắng xúc phạm bà H và bản thân ông Q còn bị té do say rượu phải đi điều trị. Mặc dù đã khuyên can nhiều lần nhưng ông Q không thay đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà H đã sống ly thân với ông Q.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc thông báo, tống đạt văn bản tố tụng cho ông Q nhưng ông Q không tham gia tố tụng để trình bày ký kiến, yêu cầu và tham gia hòa giải mâu thuẫn vợ chồng để được đoàn tụ. Tại phiên tòa, bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn, cho thấy các bên không còn mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của H về việc ly hôn với ông Q.
[2.2] Về yêu cầu nuôi con chung: Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 người con chưa thành niên là Đỗ Ngọc Tường V, sinh ngày 19/4/2011 và Đỗ Bảo N, sinh ngày 19/9/2012.
Bà H và ông Q đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh thể hiện, ông Q là người thường xuyên uống rượu say sưa, chửi mắng bà H, không giành thời gian chăm sóc con nên chưa trách nhiệm trong việc nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q cũng không phản đối hoặc đưa ra yêu cầu về nuôi con với nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, giao cháu Đỗ Ngọc Tường V, sinh ngày 19/4/2011 và Đỗ Bảo N, sinh ngày 19/9/2012 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, bà H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Đinh Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điểu 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Đinh Thị H và ông Đỗ Văn Q.
- Về con chung: Giao cháu Đỗ Ngọc Tường V, sinh ngày 19/4/2011 và Đỗ Bảo N, sinh ngày 19/9/2012 cho bà Đinh Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Bà Đinh Thị H và ông Đỗ Văn Q đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Khi cần thiết, các bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Bà Đinh Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009589 ngày 05/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.
3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Vũ |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Đinh Thị Hồng - Đỗ Văn Quyết
