Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 8 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ảnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng

Ông Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Văn T - sinh ngày 24 tháng 8 năm 2001, tại V - Khánh Hòa; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L – Sinh năm: 1977 và bà Trần Thị Nguyệt T1 – Sinh năm: 1978; Sống chung với Nguyễn Phương T2 – Sinh năm: 2006 (không đăng ký kết hôn); có 01 con, con sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị Công an xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”, số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 14/QĐ-XPHC ngày 27/10/2023. Bị Công an huyện V, tỉnh Khánh Hoà xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mang theo trong người hoặc tàng trữ, cất dấu các loại vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ hoặc các loại công cụ, phương tiện khác có khả năng sát thương, đồ vật phương tiện giao thông nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác”, số tiền 4.000.000 đồng theo Quyết định số 1661/QĐ-XPHC ngày 03/11/2023. Bị Công an huyện V, tỉnh Khánh Hoà xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác”, số tiền 6.500.000 đồng theo Quyết định số 10/QĐ-XPHC ngày 07/02/2024. Bị Toà án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà xử phạt 09 tháng tù về tội “Bắt người trái pháp luật” theo Bản án số 51/2024/HSST ngày 11/7/2024.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Phương T2 - sinh ngày 21 tháng 6 năm 2006; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Ông Nguyễn Ngọc K – sinh năm: 1985; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Bà Hồ Thị Thanh T3 – sinh năm: 1986; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • + Ông Võ Văn L – sinh năm: 1977; trú tại: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  • + Bà Trần Thị Nguyệt T1 – sinh năm: 1978; trú tại: Thôn B, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 01 năm 2021, Võ Văn TNguyễn Phương T2 (sinh ngày 21/6/2006) có quan hệ tình cảm, yêu thương nhau. Đến tháng 3 năm 2021, Nguyễn Phương T2 (14 tuổi 09 tháng) tự nguyện quan hệ tình dục, giao cấu với Võ Văn T nhiều lần tại nhà nghỉ H ở thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và tại nhà của T2 thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Đến tháng 9 năm 2021, Nguyễn Phương T2 có thai. Sau đó, ông Nguyễn Ngọc K và bà Hồ Thị Thanh T3 (cha mẹ của T2) cùng ông Võ Văn L và bà Trần Thị Nguyệt T1 (cha mẹ của T) tổ chức đám cưới cho T với T2, không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới, T2 và T sinh sống với nhau như vợ chồng tại nhà của ông Kim bà T4. Ngày 27/5/2022, Nguyễn Phương T2 (15 tuổi 08 tháng) đã sinh 01 bé trai tại Trung tâm y tế huyện V, đặt tên con là Nguyễn Hoàng A Tin. Quá trình sinh sống, T2 và T phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 6 năm 2023, T và T2 cãi nhau nên không sống chung nhà nữa.

Ngày 16/10/2023, Nguyễn Phương T2 có đơn yêu cầu khởi tố Võ Văn T giao cấu với T2 khi T2 chưa đủ 16 tuổi.

Tại kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 760 ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh K đối với Nguyễn Phương T2: Màng trinh bị rách cũ vị trí 03h, 06h, 11h từ bờ tự do đến bờ cố định, không chảy máu, vị trí 4h-8h mất mảng màng trinh, không xác định tỷ lệ %.

Tại kết luận giám định số 790 ngày 26/01/2024 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thời điểm tháng 1 năm 2024, Nguyễn Phương T2 có độ tuổi là 17 năm đến 17 năm 06 tháng.

Tại kết luận giám định số 7419 ngày 05/12/2023 của Phân viện khoa học hình sự Bộ C tại thành phố Hồ Chí Minh: Giám định quan hệ huyết thống, AND kết quả như sau: Võ Văn T có quan hệ huyết thống cha con với Nguyễn Hoàng Anh T5. Nguyễn Phương T2 có quan hệ huyết thống mẹ con với Nguyễn Hoàng Anh T5.

- Đối với ông Nguyễn Ngọc K, bà Hồ Thị Thanh T3, ông Võ Văn L, bà Trần Thị Nguyệt T1 mặc dù biết Nguyễn Phương T2 chưa đủ tuổi kết hôn nhưng vẫn tổ chức đám cưới lấy vợ, lấy chồng cho Võ Văn TNguyễn Phương T2. Hành vi đó, có dấu hiệu tội “Tổ chức tảo hôn” theo quy định tại Điều 183 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc K, bà Hồ Thị Thanh T3, ông Võ Văn L, bà Trần Thị Nguyệt T1 chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi này nên không có căn cứ xử lý hình sự mà xử phạt vi phạm hành chính.

- Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKSVN ngày 01 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Võ Văn T về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Võ Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Văn T theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 04 (bốn) năm tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại thời điểm xét xử (ngày 27.8.2024) bị hại Nguyễn Phương T2 đã trên 18 tuổi và không yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Phương T2 có đơn xin xét xử vắng mặt, một số người làm chứng vắng mặt nhưng lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, căn cứ các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì và tại phiên tòa bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 76/CT-VKSVN ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 01 năm 2021 đến ngày 27 tháng 5 năm 2022, Võ Văn TNguyễn Phương T2 (tại thời điểm giao cấu Nguyễn Phương T2 dưới 16 tuổi) đã nhiều lần giao cấu với nhau tại nhà nghỉ H thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa và tại nhà của T2 thuộc thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa làm cho T2 mang thai, sinh con.

Theo quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật Hình sự thì:

“1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: ...

a) Phạm tội 02 lần trở lên

...

d) Làm nạn nhân có thai ..”

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội và hình phạt được quy định tại điểm a, d khoản 2 Điều 145 của Bộ luật hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm về tình dục nhiều lần với bị hại tại thời điểm bị hại dưới 16 tuổi và làm cho bị hại mang thai, sinh con, gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của bị hại, gây dư luận xấu trong xã hội. Tuy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo có nhân thân không tốt. Nên cần xử lý nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa những hành vi tương tự.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa: Bị hại Nguyễn Phương T2 vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt), nhưng căn cứ lời khai của bị hại Nguyễn Phương T2 có tại hồ sơ vụ án thì bị hại Nguyễn Phương T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo Võ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, d khoản 2 Điều 145; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Võ Văn T

  1. Xử phạt bị cáo Võ Văn T 04 (bốn) năm tù, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Không xét về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo Võ Văn T với bị hại Nguyễn Phương T2.
  3. Về án phí: Bị cáo Võ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  4. Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Ảnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng

Thạch Nguyễn Mai Thiện Bảo

Nguyễn Ngọc Ảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa về hình sự sơ thẩm (giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn T phạm tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger