|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/DS-ST Ngày: 26-9-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Bỉ.
- Bà Nguyễn Thị Kim Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ: Bà Trần Tường Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 68/2024/TLST-DS, ngày 17 tháng 4 năm 2024 việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-DS, ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-DS, ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng T1
Trụ sở chính: Số A H, phường B, thành phố T, tỉnh Long An;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam.
Địa chỉ: Số C T, phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện: Ông Nguyễn Như D. Chức vụ: Phó Tổng giám đốc.
Theo Hợp đồng mua, bán nợ số 508/2024/MBN.VAMC-CB, ngày 22/5/2024 và Hợp đồng ủy quyền số 509/2024/UQ.VAMC-CB, ngày 22/5/2024.
Người được ủy quyền lại: Các ông Nguyễn Văn T, Lê Đình Q và ông Lê Đăng B – thuộc Ban công nợ - Ngân hàng T1 tham tố tụng tại Tòa án. (Văn bản ủy quyền số 120/2024/GUQ-CB ngày 18/3/2024). Ông Lê Đăng B có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phạm Công Đ, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt không lý do.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn X, sinh năm: 1970.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và những lời khai tiếp theo của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Đăng B, trình bày:
Ngân hàng T1 (gọi tắt là Ngân hàng T1) và ông Phạm Công Đ đã ký Hợp đồng tín dụng số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTD/010 ngày 02/02/2023. Theo đó, Ngân hàng T1 - chi nhánh R cho ông Phạm Công Đ vay số tiền 3.900.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ chín trăm triệu đồng). Mục đích vay mua đất ở, thời hạn vay 263 tháng, lãi suất vay 03 tháng đầu tiên 14%/năm; lãi suất cho vay sẽ được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là 07/05/2023 bằng lãi suất cơ sở 24 tháng cộng biên độ 4%/năm. Lãi trên nợ gốc quá hạn : 150% lãi suất trong hạn. Lãi trên nợ lãi quá hạn là 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thời hạn trả nợ:
Nợ gốc và nợ lãi: Vào ngày 25 hàng tháng;
Nợ gốc được trả thành: 251 kỳ.
Số nợ gốc phải trả của mỗi kỳ trả nợ: 15.537.849 đồng.
Số dư nợ gốc phải trả kỳ cuối cùng: 15.537.750 đồng.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, ông Phạm Công Đ đã ký với Ngân hàng T1 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTC/010 ngày 08/02/2023.
Tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cùng toàn bộ các quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 011652, số vào sổ cấp GCN: CS05768 do Sở TN&MT tỉnh L cấp ngày 09/03/2020. Tài sản thế chấp được công chứng tại Văn phòng C (số C, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD), đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V ngày 08/02/2023.
Tính đến ngày 15/09/2023, ông Phạm Công Đ đã trả cho Ngân hàng T1 tổng số tiền là: 115.586.227 đồng. (Trong đó: Nợ gốc: 0 đồng. Nợ lãi đã trả: 115.183.562 đồng. Phạt chậm trả: 402.665 đồng).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phạm Công Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả vốn lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký, cụ thể bắt đầu từ kỳ thanh toán ngày 25/04/2023 ông Phạm Công Đ đã không đóng nợ gốc, nợ lãi đúng hạn theo quy định. Do đó, Ngân hàng T1 đã ban hành Quyết định số 1597/2023/QĐ-CB ngày 11/10/2023 về việc chấm dứt việc cho vay và thu hồi nợ trước hạn cả gốc và lãi của ông Phạm Công Đ.
Ngày 22/5/2024 Ngân hàng T1 đã lập Hợp đồng mua, bán toàn bộ số nợ của ông Phạm Công Đ cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (gọi tắt là Công ty), theo Hợp đồng mua, bán nợ số 508/2024/MBN.VAMC-CB, ngày 22/5/2024 và Hợp đồng ủy quyền số 509/2024/UQ.VAMC-CB, ngày 22/5/2024.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng T1 khởi kiện đối với ông Phạm Công Đ: Yêu cầu giải quyết những vấn đề sau đây đối với ông Phạm Công Đ, yêu cầu:
- - Ông Phạm Công Đ phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam do Ngân hàng T1 đại diện nhận với tổng số tiền gốc và lãi là: 4.648.537.007 đồng trong đó: Nợ gốc : 3.900.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 702.642.229 đồng. Lãi quá hạn: 1.081.245 đồng. Phạt chậm trả lãi: 44.813.533 đồng. Nợ lãi tính đến ngày 14/8/2024.
Ngoài ra ông Phạm Công Đ còn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi và phí phát sinh đối với số nợ còn lại theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTD/010 ngày 02/02/2023 đã ký kết với Ngân hàng T1 kể từ sau ngày 14/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Trường hợp ông Phạm Công Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng T1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTC/010 ngày 08/02/2023 để thu hồi nợ.
Hiện nay trong thửa đất ông Phạm Công Đ đã thế chấp cho ngân hàng, ông Phạm Văn X, (là người ở liền kề với thửa đất thế chấp) đã cất một nhà tạm trên đất, theo hợp đồng thế chấp thì tài sản trên thuộc về tài sản thế chấp, nhưng do nhà tạm giá trị tài sản không lớn, Ngân hàng T1 không yêu cầu định giá. Nếu tài sản trên không còn tồn tại tại thời điểm xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng T1 cũng không có ý kiến gì.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Phạm Công Đ đối với Công ty. Trường hợp số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Đ thì ông Đ có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho Công ty theo quy định của pháp luật.
2. Bị đơn ông Phạm Công Đ vắng mặt, nên không có lời trình bày.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn X có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ phát biểu quan điểm: Về tuân thủ pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định về thủ tục tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật. Bị đơn ông Phạm Công Đ đã được tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do; ông Phạm Văn X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, nên cần áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc vay và tiền lãi cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam do Ngân hàng T1 đại diện nhận số tiền gốc, lãi tổng cộng là 4.648.537.007 đồng. (Tiền lãi tính đến ngày 14/8/2024) và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi trả hết số nợ gốc. Đối với hợp đồng thế chấp khi bị đơn không trả nợ vốn vay và lãi thì nguyên đơn có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Qua lời khai trình của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các chứng cứ nguyên đơn xuất trình, Hội đồng xét xử xét thấy giữa Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam ( kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng T1) với ông Phạm Công Đ có phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng; việc tranh chấp và thẩm quyền giải quyết được quy định tại các Điều 26, 35 và 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ thụ lý, giải quyết theo quy định.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Công Đ là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do; ông Phạm Văn X là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Hợp đồng tín dụng số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTD/010 ngày 02/02/2023 được ông Phạm Công Đ ký kết với Ngân hàng T1 là hoàn toàn tự nguyện, khi ký hợp đồng các bên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, nội dung hợp đồng phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Phạm Công Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi theo quy định tại Điều 3 của hợp đồng tín dụng, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán nợ là có căn cứ. Do Ngân hàng T1 đã lập Hợp đồng mua, bán toàn bộ số nợ của ông Phạm Công Đ cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam, theo Hợp đồng mua, bán nợ số 508/2024/MBN.VAMC-CB, ngày 22/5/2024 và Hợp đồng ủy quyền số 509/2024/UQ.VAMC-CB, ngày 22/5/2024 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Phạm Công Đ trả cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam, do Ngân hàng T1 đại diện nhận số tiền gốc, lãi tính đến ngày 14/8/2024 tổng cộng là 4.648.537.007 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.900.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 702.642.229 đồng. Lãi quá hạn: 1.081.245 đồng. Phạt chậm trả lãi: 44.813.533 đồng.
Ngoài ra, ông Đ còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 14/8/2024 cho đến ngày trả hết nợ gốc, theo hợp đồng tín dụng số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTD/010 ngày 02/02/2023 .
Trường hợp bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTC/010 ngày 08/02/2023.
[4] Đối với căn nhà tạm ông Phạm Xăn X1 xây dựng trong thửa đất đã thế chấp, Ngân hàng không yêu cầu định giá và không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ tài sản thế chấp là 5.000.000 đồng, Ngân hàng đã tạm nộp. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu chi phí này, có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng 5.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không phải chịu án phí, hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.
[6] Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 của Luật tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng T1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng ông Phạm Công Đ.
Buộc ông Phạm Công Đ có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH MTV Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam, do Ngân hàng T1 đại diện nhận tổng số tiền gốc, lãi là: 4.648.537.007 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 3.900.000.000 đồng. Nợ lãi trong hạn: 702.642.229 đồng. Lãi quá hạn: 1.081.245 đồng. Phạt chậm trả lãi: 44.813.533 đồng. Nợ lãi tính đến ngày 14/8/2024.
Ngoài ra, ông Phạm Công Đ còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 14/8/2024 cho đến ngày trả hết nợ gốc, theo hợp đồng tín dụng số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTD/010 ngày 02/02/2023 .
Trường hợp ông Phạm Công Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ trên thì Công ty có quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6/2023/LOS22/MG001/HĐTC/010 ngày 08/02/2023.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Phạm Công Đ đối với Công ty. Trường hợp số tiền phát mãi tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Đ thì ông Đ có trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ cho đến khi trả hết khoản nợ nêu trên cho Công ty theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chổ tài sản thế chấp là 5.000.000 đồng, Ngân hàng đã tạm nộp. Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên buộc ông Phạm Công Đ có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng 5.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Công Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 112.648.537 đồng (Một trăm mười hai triệu, sáu trăm bốn mươi tám ngàn, năm trăm ba mươi bảy đồng).
Ngân hàng T1 không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng T1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.149.739 đồng (Năm mươi sáu triệu, một trăm bốn mươi chín ngàn, bảy trăm ba mươi chín đồng) theo biên lai số 0009447, ngày 17/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Mai Thị Bỉ - Nguyễn Thị Kim Xuân |
Phạm Văn Thái |
8
Bản án số 77/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 77/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng P "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" Phạm Công Đ
