|
TÒA ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ******** |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ******** |
Bản án số: 77/2024/HSST
Ngày 26/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền Hoà
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Minh Tuấn
Ông Trần Ngọc Thịnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 61/2024/HSST ngày 02/4/2024 - theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/QĐ-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
TRẦN VĂN THỊNH;
sinh năm 1968 tại Hà Nội; hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số C P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn M (đã chết) và bà: Ngô Thị T (đã chết); vợ là: Mã Thị T1 và có 01 con (sinh năm 2003).
* 02 tiền án:
- Ngày 09/4/2019 Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội kết án 16 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Ngày 27/10/2021 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội kết án 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
* Tiền sự: (không).
* Nhân thân:
- Ngày 24/10/1996 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội kết án 18 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản của công dân".
- Ngày 21/7/2011 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội kết án 26 tháng tù về tội "Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy".
Tạm giữ: 20/12/2023; tạm giam: 26/12/2023
(Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mã Thị T1; sinh năm 1978; hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số C P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 09h15' ngày 20/12/2023, Trần Văn T2 khi đang điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM Atila mang biển kiểm sát 29S1-540.25 đi tại trước cửa số nhà C phố P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã bị Tổ công tác Công an phường P dừng xe tiến hành kiểm tra.
Khi Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, Trần Văn T2 đã tự nguyện giao nộp từ bên tay trái đang cầm một gói nhỏ giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tại đây, T2 khai nhận chất bột màu trắng nói trên là ma túy Heroine vừa mua trước đó tại khu vực cuối ngõ G N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội của một người đàn ông không rõ danh tính để mang về sử dụng. Tổ công tác đã tạm giữ, niêm phong tang vật và đưa Trần Văn T2 cùng tang vật, phương tiện về trụ sở để giải quyết.
Thu giữ của Trần Văn T2:
- Một gói nhỏ bằng giấy màu bạc trong bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy Heroin;
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen cũ, đã qua sử dụng lắp sim số 0387934168;
- Một xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila cũ, đã qua sử dụng biển kiểm sát 29S1-540.25, số khung: RLGKA12GDAD061632, số máy: VMVTBAD061632.
Vào khoảng 19h15' ngày 20/12/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T2 tại số C P, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Theo bản kết luận giám định số 8539/KLGĐ-PC09 ngày 27/12/2023 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong một gói giấy bạc màu trắng mà T2 mang theo là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,072 gam.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T2 khai nhận: "Khoảng 9h15' ngày 20/12/2023 T2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila mang biển kiểm sát 29S1-540.25 đến khu vực bờ sông H cuối ngõ G N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội với mục đích tìm mua Heroine để về sử dụng. Khi đến nơi, T2 gặp và mua một gói Heroine với giá 100.000 đồng của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Sau khi mua được H, T2 giấu trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy quay về nhà để sử dụng. Khi đến trước cửa số nhà C phố P, quận H, T2 bị Công an phường P kiểm tra và bắt giữ cùng tang vật như đã nêu trên.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen cũ, đã qua sử dụng lắp sim số 0387934168 thu giữ của Trần Văn T2, xác định là tài sản hợp pháp của T2 dùng để liên lạc cá nhân.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu SYM Atila cũ, đã qua sử dụng biển kiểm sát 29S1-540.25; số khung: RLGKA12GDAD061632, số máy: VMVTBAD061632 được đăng ký lần đầu cho chị Nguyễn Thị X, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh xe không nằm trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Chiếc xe này chị X khai đã bán xe cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch vào đầu năm 2022 sau đó chị Mã Thị T1, vợ Trần Văn T2 mua lại chiếc xe này từ một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch vào cuối năm 2022. Cả hai lần giao dịch này, cả chị X và chị T1 đều không làm thủ tục sang tên đổi chủ. Sáng ngày 20/12/2023 chị T1 cho chồng là Trần Văn T2 mượn xe để đi lại, không biết việc T2 sử dụng xe vào mục đích gì.
Quá trình điều tra do không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng đã bán Heroine cho Trần Văn T2 nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận H không có căn cứ mở rộng điều tra.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 29/03/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Trần Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Văn T2 khai nhận toàn bộ hành vi như đã khai tại Cơ quan điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích nội dung vụ án, tính chất động cơ và mục đích phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trần Văn T2 với mức án từ 16 đến 20 tháng tù.
Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tang vật: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 228 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ ma túy.
- Trả lại bị cáo một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kèm sim, do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với một xe máy nhãn hiệu SYM Attlia màu vàng, biển kiểm sát 29S1-540.25, đăng ký xe mang tên chị Nguyễn Thị X. Thông báo công khai có thời hạn, nếu không có người nhận thì trả lại xe máy cho chị Mã Thị T1, vì chị T1 không liên quan đến hành vi phạm tội.
Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung: Khoảng 09h15' ngày 20/12/2023 Trần Văn T2 điều khiển xe máy nhãn hiệu SYM Attila, biển kiểm sát 29S1 - 540.25 đến khu vực Sông H cuối ngõ G N, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội gặp và mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân) một gói Heroin với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, T2 giấu trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy đi về nhà để sử dụng. Khi T2 đi đến trước cửa số nhà C P thì bị Công an phường P kiểm tra và bắt quả tang cùng tang vật là số ma túy vừa mua. Theo kết luận giám định, chất bột màu trắng bên trong một gói giấy bạc thu giữ của T2 là ma túy loại Heroine có khối lượng 0,072 gam.
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Văn T2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và trật tự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo cần thiết phải truy tố và đưa ra xét xử.
Xét:
- Nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án, trong đó tiền án năm 2021 chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp Tái phạm.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tái phạm, được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Với những phân tích trên về hành vi của bị cáo; hậu quả vụ án; nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo.
Biện pháp tư pháp:
Tang vật:
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ ma túy.
- Trả lại bị cáo một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen kèm sim, do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với một xe máy nhãn hiệu SYM Attlia màu vàng, biển kiểm sát 29S1-540.25, đăng ký xe mang tên chị Nguyễn Thị X.
Tại Cơ quan điều tra chị X khai mua và đăng ký sở hữu xe máy trên. Đầu năm 2022 chị bán xe máy cho một người đàn ông (không rõ nhân thân) và không lập giấy tờ mua bán. Chị Mã Thị T1 là vợ bị cáo T2 khai mua chiếc xe máy trên của một người đàn ông (không rõ nhân thân) từ cuối năm 2022, khi mua xe hai bên không lập giấy tờ mua bán.
Xét: Theo lời khai của chị X, chị T1 và các tài liệu Cơ quan điều tra thu thập được thì hiện chiếc xe máy chưa đủ cơ sở pháp lý xác định xe máy trên thuộc sở hữu hợp pháp của chị T1.
Vì vậy, ra thông báo công khai có thời hạn, nếu không có người nhận thì trả lại xe máy cho chị Mã Thị T1, vì chị T1 không có lỗi và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: TRẦN VĂN THỊNH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
3. Hình phạt:
Xử phạt TRẦN VĂN THỊNH 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.
4. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Điều 228 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy: Một phong bì niêm phong có chữ ký của Trần Văn T2, giám định viên Vũ Việt C, người chứng kiến Lê Sỹ V, cán bộ Hoàng Mạnh N và hình dấu công an phường, bên trong có 0,072 gam ma túy loại Heroine (Phòng PC09 - Công an Thành phố H đã trích mẫu giám định 0,017 gam, còn lại 0,055 gam).
- Trả lại bị cáo Trần Văn T2: Một điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Nokia màu đen (kèm một sim).
Máy đã cũ không rõ nguồn gốc suất xứ, tại thời điểm bàn giao không mở máy được để kiểm tra, chất lượng hiện trạng không rõ.
(Tang vật hiện giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm - theo Biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 05/4/2024).
- Một xe máy nhãn hiệu SYM Attlia màu vàng đã cũ, số khung: RLGKA12GDAD061632, số máy: VMVTBAD061632, kèm một biển kiểm sát 29S1-540.25.
Tại thời điểm bàn giao, xe máy không nổ được, xe cũ đã qua sử dụng, không rõ hiện trạng, chất lượng.
Trong thời hạn một năm, kể từ ngày Chi cục thi hành án Dân sự quận H ra thông báo công khai mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp chiếc xe máy trên có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự; hết thời hạn trên mà không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, xe máy sẽ trả lại lại cho chị Mã Thị T1.
(Tang vật hiện giữ tại kho vật chứng của Công an quận H - theo Biên bản trao đổi về việc giao nhận tang vật, vật chứng ngày 05/4/2024).
5. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hiền Hòa |
Bản án số 77/2024/HSST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 77/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T. tàng trữ trái phép chất ma túy
