Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/DS-PT
Ngày: 25-9-2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng
quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Toàn

Các thẩm phán: Ông Bùi Xuân Trường

Bà Điêu Thị Bích Lượt

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Hà Thu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 62/2024/TLPT - DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 85/2024/QĐXXPT-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa 682/2024/QĐ-PT ngày 13/9/2024 và ấn định mở lại phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đình L, sinh năm 1979 và chị Đặng Thị T, sinh năm 1990. Đại diện theo ủy quyền của anh L: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1990. Đều có địa chỉ: Khu Đ, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

Bị đơn: Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1: Ông Nguyễn Đức H - Luật sư thuộc Văn phòng L6 - Đoàn luật sư tỉnh P. Địa chỉ: SN A, tổ B, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị T2, sinh năm 1964. Địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt

Người tham gia tố tụng khác:

1. Ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1958;

2. Ông Cù Văn P, sinh năm 1956;

Đều có địa chỉ: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

3. Ông Nguyễn Đăng L1, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn là anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T trình bày: Nguồn gốc quyền sử dụng đất vợ chồng tôi đang tranh chấp với ông T1 là vợ chồng tôi mua của ông L1 và bà H1. Vợ chồng ông L1 và bà H1 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018, hai bên đã làm hợp đồng chuyển nhượng và các thủ tục pháp lý sang tên vợ chồng tôi và nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung mang tên vợ chồng tôi (vì vợ chồng tôi mua cùng lúc 03 thửa) về diện tích đất nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L1 đúng bằng diện tích đất theo bìa đỏ đã cấp cho vợ chồng ông L1 về thửa đất này.

Ngoài ra vợ chồng tôi còn mua của vợ chồng ông L1 và bà H1 02 thửa đất nữa: 01 thửa giáp với đất nhà ông T4 theo giấy chứng nhận quyền sử đất số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018, vợ chồng tôi đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các thủ tục pháp lý và đã sang tên vợ chồng tôi nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng tôi; 01 thửa đất cũng của vợ chồng ông L1 và bà H1 nhưng khi vợ chồng ông L1 chuyển nhượng sang cho vợ chồng tôi thì vẫn đứng tên vợ chồng ông Đỗ Văn T1 và bà Đặng Thị Tuyết. Do vẫn đứng tên vợ chồng ông T1 và bà T2 nên khi làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thống nhất giữa vợ chồng ông L1, vợ chồng ông T1 và vợ chồng tôi để vợ chồng ông T1 với vợ chồng tôi ký hợp đồng và các thủ tục pháp lý để sang tên vợ chồng tôi và thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chúng tôi đã nhập chung cả vào GCNQSDĐ mang tên vợ chồng tôi.

Khi các giấy tờ và thủ tục pháp lý đầy đủ vợ chồng tôi đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 ngày 03/10/2019 thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 5, diện tích 527m² ở khu B, xã C (nay là khu A, xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ (diện tích đất này là chung của 03 thửa đất mà vợ chồng tôi đã mua nhập chung như nêu ở trên).

Sau khi mua đất vợ chồng tôi chưa sử dụng nhưng ổn định, không có tranh chấp từ năm 2019 đến tháng 3/2023 vợ chồng tôi thấy ông T1 đem máy múc đến múc đất của vợ chồng tôi thành mương sâu theo chiều mặt đường là 02m và chạy suốt theo chiều sâu của đất. Vợ chồng tôi có trao đổi với ông T1 nhưng ông T1 không nghe nên vợ chồng tôi đã làm đơn đến UBND xã V nhưng hoà giải không thành. Vợ chồng đã làm đơn đến Toà án và yêu cầu ông T1 lấp lại mặt bằng trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi vì phần diện tích đất này là vợ chồng tôi mua của ông L1 và bà H1 thuộc thửa 198, tờ bản đồ số 05, đất giáp nhà ông T3 là em ông T1; Thửa đất mà ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do thống nhất giữa vợ chồng ông L1, vợ chồng ông T1 và vợ chồng tôi có chiều theo mặt đường Quốc lộ 32C là 03m và chiều dài tính từ mặt đường Quốc lộ 32 C vào trong là 38m. Xác nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m² (trong đó có 100m² đất ở, 427m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05. Cấm ông T1 không được thực hiện hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất của vợ chồng tôi ở trên.

Ý kiến trình bày của bị đơn: Tôi không nhất trí với ý kiến của nguyên đơn vì đất tôi đang múc là đất của tôi 100% nên tôi có quyền làm. Tại thời điểm này tôi chưa có giấy tờ gì chứng minh tôi sẽ chứng minh sau.

Về chữ ký và chữ viết của vợ chồng tôi: Vợ chồng tôi có ký và ghi rõ họ tên đầy đủ là Đỗ Văn T1 và Đặng Thị T2 trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 04/9/2019 giữa vợ chồng tôi và vợ chồng anh L, chị T là đúng chữ viết và chữ ký của vợ chồng tôi.

Vợ chồng tôi có ký và ghi rõ họ tên trong các giấy tờ gồm:

  • Đơn đề nghị tách thửa đất, hợp thức đất ngày 04/9/2019.
  • Đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/9/2019.
  • Đơn đăng ký biến động về đất đai, tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019.

Đối với tờ khai thuế TNCN chỉ một mình tôi ký, vợ tôi không ký ở đây.

Vợ chồng tôi và vợ chồng anh L không có trao đổi, mua bán đất gì cũng không nói chuyện với nhau về việc mua bán bao giờ.

Theo sơ đồ ngày 18/01/2024, do cơ quan Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện T trích đo cụ thể tôi xác định như sau:

Thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018 của vợ chồng ông L1 và bà H1 phía giáp nhà ông T4, việc vợ chồng ông L1 chuyển nhượng cho vợ chồng anh L tôi không thắc mắc, tranh chấp gì đây là quyền của vợ chồng ông L1 không liên quan đến vợ chồng tôi.

Tiếp giáp thửa đất của vợ chồng ông L1 ghi ở trên là 3m mặt đường (theo Biên bản thoả thuận ngày 10/5/2018) là của vợ chồng tôi bán cho ông P, sau đó ông P bán cho ông L1 và được ghi nhận tại Biên bản thoả thuận ngày 10/5/2018 nhưng các bên chỉ viết bằng ghi nhận không qua chính quyền địa phương. Thửa đất này giữa tôi, ông L1 và ông P không có tranh chấp gì. Do không có hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất qua chính quyền địa phương nên khi vợ chồng ông L1 chuyển nhượng cho vợ chồng anh L thì có yêu cầu tôi làm luôn hợp đồng chuyển diện tích đất này sang tên vợ chồng anh L (thể hiện tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019).

Trong hợp đồng này về chiều mặt đường 3m tính từ tiếp giáp thửa đất của vợ chồng ông L1 ghi ở trên kéo vào trong đất tôi hoàn toàn nhất trí số diện tích đất ghi cũng hoàn toàn nhất trí, xong chỉ xác định 35m kéo từ đường dân sinh về phía sau chứ không phải 38m. Quyền sử dụng đất này không liên quan gì đến ông L1 và ông P.

Thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 phía giáp nhà ông T3: Về hồ sơ để vợ chồng ông L1 có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tôi không thắc mắc gì nên theo tài liệu chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông L1 với vợ chồng ông T3 tôi không có ý kiến gì nên tôi không thắc mắc, tuy nhiên giữa vợ chồng ông T3 bán cho vợ chồng ông L1 thì có bán cả 2m mặt đường của tôi (theo sơ đồ thể hiện là 5m dài 44,5m về phía giáp ông T3, 41,8m phía giáp đất thửa có 03m mặt đường ghi trên, trong 05m mặt đường có 02m của tôi). Chính vì vậy tôi với vợ chồng anh L có tranh chấp theo mặt đường là 02m, chiều dài như Biên bản xác định hiện trạng đo đạc ngày 18/01/2024. Hiện nay tôi sẽ trao đổi lại với ông T3 (em tôi) chứ vợ chồng ông L1 không liên quan gì vì vợ chồng ông L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi sẽ cung cấp cho Toà án căn cứ để chứng minh ông T3 bán 02m của tôi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị T2 trình bày: Tôi là vợ ông T1, toàn bộ chữ ký và ghi họ tên Đặng Thị T2 trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019 cùng toàn bộ hồ sơ chuyển nhượng này là đúng của tôi. Việc tranh chấp đất giữa vợ chồng anh L với ông T1: Từ trước đến nay tôi không tranh chấp gì với vợ chồng anh L, đất có bìa đỏ của ai thì là của người đó, tôi không tranh chấp gì, không liên quan gì. Tôi đề nghị Tòa án không báo gọi tôi nữa tôi không tham gia bất cứ việc gì tại Toà, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tôi.

Người tham gia tố tụng khác trình bày:

1. Ông Đỗ Văn T3: Việc tôi và vợ chồng ông L1, bà H1 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 ngày 24/8/2018 và sơ đồ đất không liên quan gì đến ông T1 vì giữa các hộ giáp ranh trong đó có ông T1 đã ký. Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất chúng tôi đã làm đầy đủ theo pháp luật không có ai khiếu kiện thắc mắc gì nên vợ chồng ông L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 đứng tên vợ chồng ông L1. Do đó việc chuyển nhượng này không liên quan đến đất của ông T1, không xâm phạm gì đến phần đất của ông T1 nên đề nghị Toà án xem xét.

2. Ông Cù Văn P: Theo Biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất ngày 10/8/2018 gồm các bên đã ký, trong đó có tôi là đúng chữ ký của tôi và nội dung hoàn toàn đúng. Sau khi các bên thống nhất thì thuộc quyền sử dụng của ông L1. Sau ngày 10/8/2018 thì giữa tôi, ông T1 và ông L1 không liên quan gì tới nhau về tranh chấp trong nội dung ghi nhận. Vì ông L1 với tôi chỉ ghi nhận bằng giấy tờ này nên sau này ông L1 chuyển nhượng cho ai nữa thì tôi không biết việc vợ chồng anh L và chị T khởi kiện đối với ông T1 không liên quan gì tới tôi, tôi đề nghị Toà án không triệu tập tôi và đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và khi xét xử.

3. Ông Trần Đăng L2: Về lời khai của ông P ghi ngày 05/3/2024 tôi nhất trí không thắc mắc gì.

Về lời khai của ông T1 tôi chỉ đồng ý về lời khai 02 thửa đất:

Thửa đất mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM061140 cấp ngày 24/5/2018 có sơ đồ là đúng hai bên không tranh chấp, không thắc mắc gì; Thửa đất tiếp theo 03m (tiếp giáp thửa đất đất số bìa CM 061140 thì khi vợ chồng tôi chuyển nhượng cho vợ chồng anh L, do ba bên giữa vợ chồng ông T1, vợ chồng tôi và vợ chồng anh L có thống nhất luôn chiều dài từ 35m kéo cho đủ 38m để cho chiều dài bằng thửa đất ghi số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CM 061140 và vợ chồng ông T1 đã đồng ý nên đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1 với vợ chồng anh L là 38m; Thửa đất theo theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 diện tích đất này vợ chồng tôi mua của vợ chồng ông T3, về mốc giới tôi và vợ chồng ông T3 đã xác định rõ và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng tôi. Nay ông T1 cho rằng ông T3 bán cả 02m mặt đường của ông T1 cho tôi là không đúng.

Việc vợ tôi là bà H1 đã nhận được giấy báo của Toà án nhưng do bận và xác định không liên quan đến việc kiện giữa vợ chồng anh L với ông T1 nên không đến Toà án. Tôi và bà H1 đề nghị Toà án không triệu tập và đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và khi xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23/4-2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ đã:

Căn cứ vào: Khoản 1 - Điều 8, Khoản 1,2 - Điều 11, Điều 115, 164, 169, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự; Khoản 1 - Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 và Điều 170 Luật đất đai; Điểm đ - Điều 12, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T đối với ông Đỗ Văn T1.

Công nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 329924 do UBND huyện T cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m2 (trong đó có 100m² đất ở, 427m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 (Theo sơ đồ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên) và trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 18/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai và Phát triển quỹ đất huyện T theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1 (có sơ đồ kèm theo).

Buộc ông Đỗ Văn T1 phải trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T theo chỉ giới: 3,4,5,6,11,12,9,10,3 (có sơ đồ trích đo địa chính hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và phát triển quỹ đất huyện T đo đạc ngày 18/01/2024)

Buộc ông Đỗ Văn T1 chấm dứt mọi hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất ghi trên của vợ chồng anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T.

Bản án còn tuyên về thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 08/5/2024 ông Đỗ Văn T1 có đơn kháng cáo với nội dung: Quá trình thu thập tài liệu và đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không khách quan dẫn đến việc tuyên bản án không đúng với thực tế quá trình sử dụng đất, sâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông (những nội dung cụ thể ông báo cáo ở cấp phúc thẩm).

Đề ghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm theo hướng hủy Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho gia đình ông.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Văn T1 trình bày: Đề nghị hoãn phiên tòa để xem xét thẩm định, xác minh lại.

Ông L đề nghị giữ nguyên Bản án của cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Phát biểu về quan điểm nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn T1, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23-4-2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về hình thức đơn kháng cáo của ông Đỗ Văn T1 làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ.

Về sự có mặt của các bên đương sự: Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét về nội dung kháng cáo của ông Đỗ Văn T1.

Nguồn gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m² (trong đó có 100m² đất ở, 427m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 của vợ chồng anh L và chị T nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Đăng L1 và bà Đỗ Thị Lan H2, địa chỉ khu B, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ 03 thửa đất gồm:

+ Thửa thứ nhất: Nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L1 và bà H2 01 thửa đất (giáp với đất nhà ông T4) theo giấy chứng nhận quyền sử đất của ông L1 và bà H2 số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018. Vợ chồng anh L và chị T đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các thủ tục pháp lý và đã sang tên vợ chồng anh L, chị T và nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của vợ chồng anh L và chị T số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019. Thửa đất này không có tranh chấp.

+ Thửa thứ hai: Nhận chuyển nhượng thửa đất tiếp của vợ chồng ông L1 và bà H2: Thửa đất giáp thửa đất nêu trên nhưng khi vợ chồng ông L1 chuyển nhượng cho vợ chồng anh L và chị T thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn đứng tên ông Đỗ Văn T1 và bà Đặng Thị Tuyết. Do vẫn đứng tên ông T1 và bà T2 nên các bên thoả thuận và đi đến thống nhất khi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các thủ tục pháp lý để sang tên vợ chồng anh L và chị T thì vợ chồng ông T1 và bà T2 có ký các giấy tờ đầy đủ để sang tên cho vợ chồng anh L và chị T. Vợ chồng anh L và chị T đã nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh chị số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 5, diện tích 527m² ở khu 2 xã C (nay là khu A xã V), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Thửa đất này không tranh chấp về chiều mặt đường Quốc lộ 32C, hai bên đều xác định 03m (điều này vợ chồng anh L, ông T1 và ông L1 đều thừa nhận) nhưng có tranh chấp về chiều dài của thửa đất giữa ông T1 và vợ chồng anh L.

Theo vợ chồng anh L: Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông L1 do quyền sử dụng đất vẫn đứng tên vợ chồng ông T1 nên ba bên là vợ chồng ông L1, vợ chồng ông T1 và vợ chồng anh L đều thống nhất: Vợ chồng ông T1 và vợ chồng anh L làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông T1 trực tiếp sang vợ chồng anh L là 38m chiều dài tính từ mặt đường quốc lộ kéo vào. Do sự thỏa thuận giữa các bên nên vợ chồng ông T1 đã cùng với vợ chồng anh L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/9/2019.

Ông T1 thừa nhận có sự chuyển nhượng như vợ chồng anh chị Luật T trình bày nhưng ông chỉ chuyển nhượng 35m chiều dài tính từ mặt đường quốc lộ kéo vào sâu phía trong. Hợp đồng này ông T1 xác nhận chữ ký ghi họ tên Đỗ Văn T1 và Đặng Thị T2 là đúng của vợ chồng ông T1 và bà T2; bên nhận chuyển nhượng đúng là của anh Nguyễn Đình L và Đặng Thị T. Căn cứ vào trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ do Toà án cấp sơ thẩm thu thập có đủ cơ sở xác định:

Bản thân bà T2 (vợ của ông T1) thừa nhận tham gia ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/9/2019. Bà T2 cũng xác nhận không có tranh chấp gì với vợ chồng anh L và xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ai thì thuộc người đó; quyền sử dụng đất ghi diện tích trong hợp đồng phù hợp với chiều dài 38m của thửa đất và các tài liệu, sơ đồ hiện trạng có trong hợp đồng này. Điều này còn phù hợp với lời khai của ông L1 là: Khi vợ chồng ông L1 chuyển nhượng cho vợ chồng anh L, do ba bên giữa vợ chồng ông T1, vợ chồng ông L1 và vợ chồng anh L có thống nhất luôn để chiều dài từ 35m kéo cho đủ 38m để cho chiều dài bằng thửa đất ghi số bìa CM 061140 và vợ chồng ông T1 đã đồng ý nên đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T1 với vợ chồng anh L là 38m. Như vậy, có đủ cơ sở xác định vợ chồng anh L nhận chuyển nhượng thửa đất này với chiều mặt đường Quốc lộ 32C là 03m và chiều dài tính từ mặt đường Quốc lộ 32C kéo sâu vào trong là 38m như vợ chồng anh L đã trình bày. Vì vậy, phần đất đang tranh chấp giữa vợ chồng anh L và ông T1 là của vợ chồng anh L được nhận chuyển nhượng hợp pháp. Giấy CNQSD đất của vợ chồng ông L1 thửa đất đã có GCNQSD đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 mang tên Nguyễn Đăng L1 và Đỗ Thị Lan H2 chuyển nhượng cho vợ chồng anh L, chị T (nay vợ chồng anh L đã nhập chung vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng anh L theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019). Quyền sử dụng đất này có tranh chấp giữa ông T1 và vợ chồng anh L, cụ thể tranh chấp về chiều ngang mặt đường Quốc lộ 32C là hơn 2m và chiều dài từ mặt đường quốc lộ về hết phía sau của thửa đất. Theo ý kiến của vợ chồng anh L: Việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất trên của vợ chồng ông L1 theo GCNQSD đất trên có chiều mặt đường Quốc lộ 32C và phía sau đều là 05m, chiều dài giáp phía đất của nhà ông T3 là 44,5m, chiều dài phía giáp đất mà vợ chồng anh L mua của vợ chồng ông L1 (nhưng hợp đồng do vợ chồng ông T1 ký với vợ chồng anh L ngày 04/9/2019 như phân tích ở trên) là 41,8m. Ông T1 cho rằng: Trong chiều rộng thửa đất này có hơn 2m mặt đường Quốc lộ C kéo về hết đất phía sau là của ông T1 do ông T3 đã chuyển nhượng cả diện tích đất này cho vợ chồng ông L1 nên vợ chồng ông L1 mới chuyển nhượng cho vợ chồng anh L. Căn cứ vào trình bày của các đương sự và tài liệu do Toà án cấp sơ thẩm đã thu thập có đủ cơ sở xác định:

Bản thân bà T2 là người đồng sở hữu quyền sử dụng đất này nhưng bà T2 vẫn xác định không có tranh chấp với ai và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ai thì của người đó, nghĩa là quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng anh L là của vợ chồng anh L; ông T3 xác định việc vợ chồng ông và vợ chồng ông L1 làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy và sơ đồ đất không liên quan gì đến ông T1 vì giữa các hộ giáp ranh trong đó có ông T1 đã ký. Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên đã làm đầy đủ theo pháp luật không có ai khiếu kiện thắc mắc gì nên vợ chồng ông L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 đứng tên vợ chồng ông L1. Do đó việc chuyển nhượng này không liên quan đến đất của ông T1, không xâm phạm gì đến phần đất của ông T1. Mặt khác, ông L1 xác định thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018 diện tích đất này vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T3, về mốc giới vợ chồng ông L1 và vợ chồng ông T3 đã xác định rõ và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông L1, ông T1 cho rằng ông T3 bán hơn 2m mặt đường của ông T1 cho vợ chồng ông là không có căn cứ. Do vậy, quyền sử dụng đất này vợ chồng ông L1 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T3 là đúng pháp luật không liên quan đến ông T1. Vì vậy vợ chồng ông L1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 ngày 06/8/2018, chính từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông T3 với vợ chồng ông L1 đúng pháp luật nên vợ chồng ông L1 có quyền chuyển nhượng cho vợ chồng anh L là đúng pháp luật. Diện tích đất mà vợ chồng anh L nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông L1 đúng bằng diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông L1 ghi ở trên.

Lời trình bày của bà T2, ông T3 và ông L1 phù hợp với Hợp đồng chuyển nhựng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được lập ngày 06/8/2018 giữa vợ chồng ông T3 với vợ chồng ông L1. Theo hợp đồng này thì ông T1 xác định đã ký giáp ranh thửa đất (xác nhận chữ ký ghi họ tên Đỗ Văn T1 là đúng của ông T1), phù hợp với các tài liệu, sơ đồ hiện trạng theo hồ sơ này. Đồng thời, phía ông T1 cũng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh hơn 2m mặt đường Quốc lộ C là thuộc quyền sử dụng của ông T1.

Từ những phân tích nêu trên có đủ cơ sở để xác định: Việc vợ chồng anh L và chị T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông L1 và bà H2 theo 02 GCNQSD (01 thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061140 cấp ngày 24/5/2018 và 01 thửa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 061843 cấp ngày 24/8/2018) và của vợ chồng ông T1 và bà T2 (theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 04/9/2019) là đúng pháp luật. Vợ chồng anh L và chị T đã nhập chung vào theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m² (trong đó có 100m² đất ở, 427m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 (có sơ đồ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Sơ đồ này phù hợp với sơ đồ khi xem xét thẩm định và định giá tài sản lập ngày 18/01/2024. Toà án cấp sơ thẩm xác nhận anh chị Luật T có quyền sở hữu hợp pháp về quyền sử dụng đất nêu trên theo sơ đồ tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 329924 cấp ngày 03/10/2019 (có trích đo địa chính hiện trạng thửa đất số 178, tờ bản đồ số 5 có chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1 được xem xét, thẩm định ngày 18/01/2024) là có căn cứ và phù hợp. Việc ông T1 múc đất (theo chỉ giới 3,4,5,6,11,12,9,10,1 được xem xét, thẩm định ngày 18/01/2024) đã lấn chiếm quyền sử dụng đất của vợ chồng anh L chị T nên Toà án cấp sơ thẩm buộc ông T1 phải trả lại quyền sử dụng đất này cho vợ chồng anh L và chị T là phù hợp và có căn cứ.

Do anh L chị T không yêu cầu ông T1 phải khôi phục lại tình trạng đất ban đầu trước khi múc đất nên Toà án cấp sơ thẩm không đề cập xử lý là phù hợp.

Tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1 đề nghị xem xét thẩm định và xác minh lại là không có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Đỗ Văn T1, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đỗ Văn T1 không được chấp nhận.

Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đỗ Văn T1 không được chấp nhận nhưng ông T1 là người Cao tuổi nên không phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhân kháng cáo của ông Đỗ Văn T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 8, Khoản 1,2 Điều 11, Điều 115, 164, 169, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự; Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 và Điều 170 Luật đất đai; Điểm đ Điều 12, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T đối với ông Đỗ Văn T1.

Công nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 329924 do UBND huyện T cấp ngày 03/10/2019 có diện tích là 527m² (trong đó có 100m² đất ở, 427m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 178, tờ bản đồ số 05 (Theo sơ đồ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên) và trích đo địa chính hiện trạng thửa đất ngày 18/01/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai và phát triển quỹ đất huyện T theo chỉ giới 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10,1 (có sơ đồ kèm theo).

Buộc ông Đỗ Văn T1 phải trả lại quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T theo chỉ giới: 3,4,5,6,11,12,9,10,3 (có sơ đồ trích đo địa chính hiện trạng thửa đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất và phát triển quỹ đất huyện T đo đạc ngày 18/01/2024)

Buộc ông Đỗ Văn T1 chấm dứt mọi hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất ghi trên của vợ chồng anh Nguyễn Đình L và chị Đặng Thị T.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Đỗ Văn T1 không được chấp nhận nhưng ông T1 là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Phần quyết định của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ khi tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - TAND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - Đương sự;
  • - Người BVQL cho đương sự;
  • - Lưu HS, AV;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Văn Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/DS-PT ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 77/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger