|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HS-ST
Ngày: 24-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chung Quốc Hội
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Ngô Rạng Đông – Nguyên Trưởng phòng Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Phú Quốc.
Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đình Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Xuân Vinh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2024/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Phi H, sinh năm 1998, tại P, Kiên Giang.
Tên gọi khác: Hùng Phi.
Căn cước công dân: [...].
Nơi ĐKHKTT: Khu phố 4, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Chỗ ở: Khu phố 4, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn T và bà Đỗ Thị N;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2023 đến ngày 28/02/2024;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Huỳnh T1, sinh năm 2005, tại Đồng Tháp.
Tên gọi khác: Trần Công K hoặc Khang Ma C.
Căn cước công dân: [...].
Nơi ĐKHKTT: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Chỗ ở: Không có nơi ở rõ ràng;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn L và bà Văn Thị Mỹ L1;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2023 đến nay;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Họ và tên: Nguyễn Hùng Đ, sinh ngày 18/3/2007, tại P, Kiên Giang.
Tên gọi khác: Đức Công T2.
Căn cước công dân: [...].
Nơi ĐKHKTT: Khu phố 6, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Chỗ ở: Khu phố 6, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con bà Nguyễn Thị Bích N1, không rõ họ tên cha;
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2023 đến ngày 28/02/2024;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Đ: Luật sư Hoàng Quốc V – Đoàn Luật sư tỉnh K (Có mặt).
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ: Bà Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1987 (Có mặt).
Địa chỉ : Khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1990 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Khu phố G, phường D, thành phố P, Kiên Giang. - Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1992 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. - Ông Nguyễn Thanh L2, sinh năm 1980 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp S, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn V1, sinh năm 1966 (có đơn vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 02/9/2023 đến ngày 03/9/2023, bị cáo Nguyễn Phi H, Nguyễn Huỳnh T1, Nguyễn Hùng Đ cùng với Khang N2, Quốc N3 (chưa xác định được nhân thân) đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp xe mô tô của người khác bán lấy tiền tiêu xài, cụ thể như sau:
Vào khoảng 22 giờ, ngày 01/9/2023, do không có tiền tiêu xài nên Khang N2 (chưa rõ nhân thân) rủ bị cáo H đi tìm tài sản trộm để bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo H điều khiển xe mô tô loại Sirius của Khang N2 (không rõ biển số) chở Khang N2 chạy đi tìm tài sản để lấy trộm. Khoảng 02 giờ, ngày 02/9/2023, khi chạy đến số nhà A, đường T thuộc khu phố G, phường D, thành phố P thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 68P1-680.83 của bà Nguyễn Thị H1 đang dựng trước nhà. Thấy không có người trông coi, bị cáo H dừng xe lại đứng canh đường, còn Khang N2 đi vào lấy trộm xe mô tô của bà H1 rồi cả hai cùng chạy về phòng trọ của bị cáo H, tại khu phố G, phường A cất giấu. Sau khi lấy trộm xe, Khang N2 gắn biển số 68MA-013.40 vào xe trộm được và kêu bị cáo H mang đi bán. Đến khoảng 18 giờ, ngày 02/9/2023, bị cáo H điều khiển xe mô tô đến tiệm sửa xe máy “Nhật Anh”, tại ấp Đ, xã D bán cho ông Lê Văn V1, với giá 3.000.000 đồng, ông V1 yêu cầu bị cáo H làm hợp đồng mua bán xe mới đồng ý mua (ông V1 không biết xe do trộm cắp mà có). Sau khi bán xe xong, bị cáo H lấy 500.000 đồng và đưa cho Khang Nhỏ 2.500.000 đồng, số tiền trên bị cáo H đã tiêu xài cá nhân hết.
Vào khoảng 00 giờ, ngày 03/9/2023, Khang Nhỏ rũ bị cáo H, bị cáo T1, bị cáo Đ và Quốc N3 cùng đi trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, cả nhóm đến phòng trọ của bị cáo H tại khu phố G, phường A cùng nhau bàn bạc và thống nhất đi trên các tuyến đường tìm tài sản lấy trộm. Bị cáo T1 điều khiển xe mô tô chở bị cáo H. Khang Nhỏ điều khiển xe mô tô chở Quốc N3 và bị cáo Đ chạy đến tuyến đường đi vào chùa H2 thuộc ấp S, xã D Khoảng 01 giờ cùng ngày, khi chạy đến trước nhà nghĩ H3 thuộc ấp S, xã D, thành phố P thì phát hiện xe mô tô biển số 63B8-610.70 của ông Nguyễn Văn T3 đang dựng trước sân của nhà nghĩ. Thấy không có ai trong coi, bị cáo H, T1 và Đ đứng ngoài canh đường, Quốc N3 và Khang N2 đi vào trong lấy trộm xe mô tô của ông T3. Sau khi lấy trộm xe, cả nhóm cùng đẩy xe mô tô đến khu đất trống, tại khu dân cư ấp S, xã D, sau đó Khang N2, Quốc N3 và bị cáo Đ cùng nhau tháo ổ khóa nối dây điện rồi khởi động xe, bị cáo H điều khiển xe trộm được về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, bị cáo H và Khang N2 tiếp tục quay lại đoạn đường đi chùa H2 để tìm tài sản lấy trộm. Khi chạy đến đoạn đường thuộc ấp S, xã D, thành phố P thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 68P1-126.47 của ông Nguyễn Thanh L2 đang dựng trên bờ biển để ra ghe đánh bắt hải sản. Thấy không có người trong coi, Khang N2 đi đến lấy trộm xe mô tô dẫn lên đường và nối lại dây điện khởi động xe chạy về phòng trọ của bị cáo H cất giấu và đưa cho bị cáo H quản lý làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 18 giờ, ngày 04/9/2023, bị cáo H gắn biển số 68P1-258.97 vào xe mô tô trộm của ông T3 rồi đến làm hợp đồng bán xe cho ông Lê Văn V1 giá 2.500.000 đồng (ông V1 không biết xe mô tô do trộm cắp mà có). Số tiền bán xe được bị cáo H giữ 500.000 đồng và đưa Khang Nhỏ 2.000.000 đồng, Khang N2 đưa lại cho bị cáo Đ 800.000 đồng, bị cáo Đ chia lại cho bị cáo T1 200.000 đồng. Số tiền trên bị cáo H, T1 và Đ đã tiêu xài cá nhân hết. Ngày 05/9/2023, bị cáo H bị Công an xã D mời về làm việc và đã đầu thú về hành vi phạm tội của mình và giao nộp xe mô tô lấy trộm của ông Nguyễn Thanh L2. Đến ngày 08/10/2023, bị cáo T1 và Đ đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Sau khi biết được hai xe mô tô mua của bị cáo H là tài sản do trộm cắp mà có, ông Lê Văn V1 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Ngày 17/10/2023, bị cáo H, T1 bị khởi tố để điều tra, ngày 04/12/2023, bị cáo Đ bị khởi tố để điều tra.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy 5C64297015, số khung RLCS5C640AY297015, màu đỏ đen, biển số 68P1-680.83,
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy 5C6J-025384, số khung 5C6J0DY025365, màu đỏ đen, biển số 68P1-126.47,
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy E3X9E317802, số khung 3210HY135598, màu xanh đen, biển số 63B8-610.70,
- - 01 biển số 68MA-013.40.
- - 01 biển số 68P1-258.97.
Tại Kết luận định giá số 121/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận:
- - Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy 5C64297015, số khung RLCS5C640AY297015, màu đỏ đen, biển số 68P1-680.83, mua cũ vào tháng 9 năm 2022. Tại thời điểm tháng 9 năm 2023, trị giá 6.266.667 đồng.
- - Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy 5C6J-025384, số khung 5C6J0DY025365, màu đỏ đen, biển số 68P1-126.47, mua mới vào tháng năm 2013, tại thời điểm tháng 9 năm 2023, trị giá 2.866.667 đồng.
- - Giá trị 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số máy E3X9E317802, số khung 3210HY135598, màu xanh đen, biển số 63B8-610.70, mua mới vào tháng 7 năm 2016, tại thời điểm tháng 9 năm 2023, trị giá 5.166.667 đồng.
Tổng giá trị là 14.300.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSPQ ngày 19 tháng 01 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo Nguyễn Phi H, Nguyễn Huỳnh T1, Nguyễn Hùng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử đề nghị:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g, o khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H Từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm o khoản 1 Điều 52, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T1 07 (bảy) tháng 16 (mười sáu) ngày tù. Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trả tự do cho bị cáo T1 tại phiên tòa vì thời hạn phạt tù bằng thời hạn tạm giam.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Đối với Quốc N3 và Khang N2 (chưa xác định được nhân thân) Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục điều tra, làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với hành vi của ông Lê Văn V1 khi mua xe của Nguyễn Phi H, không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không xử lý.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 03 xe mô tô biển kiểm soát 68P1-680.83; biển kiểm soát 68P1- 126.47; biển kiểm soát 63B8-610.70 đã trả lại cho chủ sở hữu, đề nghị Tòa án miễn xét.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 biển số 68MA-013.40 và biển số 68P1-258.97.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra, các bị hại Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thanh L2 và Nguyễn Thị H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị Tòa án miễn xét.
Ông Lê Văn V1 không yêu cầu các bị can trả lại tiền đã mua xe, đề nghị Tòa án miễn xét.
Luật sư Hoàng Quốc V phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Đ:
Luật sư Việt thống nhất đề nghị về hình phạt đối với bị cáo Đ, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc phù hợp quy định của pháp luật, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo Đ, qua đó thể hiện sự khoan hồng của nhà nước đối với hành vi phạm tội của bị cáo Đ khi chưa đủ 18 tuổi.
Bà Nguyễn Thị Bích N1 không có ý kiến gì về đề nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo Đ.
Tại phiên tòa, bị cáo H, T1, Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố, bị cáo thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo H, T1, Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố.
Vào khoảng 02 giờ, ngày 02/9/2023, Bị cáo H điều khiển xe mô tô loại Sirius của Khang N2 (không rõ biển số) chở Khang N2 đến số nhà A, đường T thuộc khu phố G, phường D, thành phố P thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 68P1-680.83 của bà Nguyễn Thị H1 đang dựng trước nhà, không có người trong coi. Bị cáo H dừng xe lại đứng canh đường, Khang N2 đi vào lấy trộm xe mô tô của bà H1 rồi cả hai cùng chạy về phòng trọ của bị cáo H, tại khu phố G, phường A cất giấu. Sau đó, Khang N2 gắn biển số 68MA-013.40 vào xe trộm được và kêu bị cáo H mang đi bán. Đến khoảng 18 giờ, ngày 02/9/2023, bị cáo H điều khiển xe mô tô đến tiệm sửa xe máy “Nhật Anh”, tại ấp Đ, xã D bán cho ông Lê Văn V1, với giá 3.000.000 đồng.
Vào khoảng 00 giờ, ngày 03/9/2023, Khang Nhỏ rũ bị cáo H, T1, Đ và Quốc N3 cùng đi trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, tất cả đều đồng ý. Khoảng 01 giờ cùng ngày, khi chạy đến trước nhà nghĩ H3 thuộc ấp S, xã D, thành phố P thì phát hiện xe mô tô biển số 63B8-610.70 của ông Nguyễn Văn T3 đang dựng trước sân của nhà nghĩ, không có ai trong coi. Bị cáo H, T1 và Đ đứng ngoài canh đường, Quốc N3 và Khang N2 đi vào trong lấy trộm xe mô tô của ông T3. Sau khi lấy trộm xe, cả nhóm cùng đẩy xe mô tô đến khu đất trống, tại khu dân cư ấp S, xã D, K, Quốc N3 và bị cáo Đ cùng nhau tháo ổ khóa nối dây điện rồi khởi động xe, bị cáo H điều khiển xe trộm được về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, bị cáo H và Khang N2 tiếp tục quay lại đoạn đường đi chùa H2 để lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 68P1-126.47 của ông Nguyễn Thanh L2 đang dựng trên bờ biển để ra ghe đánh bắt hải sản. Đến khoảng 18 giờ, ngày 04/9/2023, bị cáo H gắn biển số 68P1-258.97 vào xe mô tô trộm của ông T3 rồi đến làm hợp đồng bán xe cho ông Lê Văn V1 giá 2.500.000 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Các bị cáo đều nhận thức được rằng hành vi trộm cắp tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân là vi phạm pháp luật nhưng với bản tính lười lao động, lợi dụng đêm khuya, các bị cáo và Khang L3, Khang N2 cùng nhau bàn bạc đi trộm cắp tài sản của người khác bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Trong vụ án này, bị cáo H, T1, Đ thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm ngang nhau, cùng nhau giúp sức thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Huỳnh L4. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và mất an ninh trật tự tại địa phương. Đối với bị cáo Đ phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức hành vi phạm tội còn hạn chế, phạm tội ít nghiêm trọng nên cần xem xét áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là đủ để giáo dục, răn đe. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử quyết định cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Do bị cáo H, T1, Đ không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H và T1 có hành vi xúi giục bị cáo Đ thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Riêng bị cáo Đ có tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo H, T1, Đ đã thành khẩn khai báo, bị cáo T1 và Đ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự Các bị cáo đầu thú hành vi phạm tội và bị hại Nguyễn Huỳnh L4 có yêu cầu giảm nhẹ cho các bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại.
Ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thanh L2 các chiếc xe máy bị trộm và không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Lê Văn V1 không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mua bán xe 5.500.000 đồng, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
Quá trình tố tụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao trả lại cho ông Nguyễn Văn T3, bà Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thanh L2 các chiếc xe máy bị trộm là phù hợp quy định pháp luật, Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vật chứng thu giữ liên quan đến hành vi trộm cắp của các bị cáo gồm biển số 68MA-013.40 và biển số 68P1-258.97 nên cần xem xét tịch thu tiêu hủy.
Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/02/2024.
[6] Về án phí: Bị cáo H, T1, Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phi H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Phi H. - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huỳnh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh T1 07 (bảy) tháng 16 (mười sáu) ngày tù.
Áp dụng khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Huỳnh T1. - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hùng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan, tổ chức được giao giám sát nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho UBND phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Hùng Đ.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại:
Các bị hại Nguyễn Văn T3, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Huỳnh L4 đã nhận lại tài sản bị trộm, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, Hội đồng xét xử không xem xét.
Ông Lê Văn V1 không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mua bán xe 5.500.000 đồng, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu tiêu hủy biển số 68MA-013.40 và biển số 68P1-258.97.
Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/02/2024. - Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Phi H, Nguyễn Huỳnh T1, Nguyễn Hùng Đ phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc. - Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Quốc Hội |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp xe máy
