|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 24/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Hồng Hải
Bà Trần Thị Tuyết
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Đẩu - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HSST ngày 11/4/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1991 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: 5 T, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Làm công; Học vấn: Mù chữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Bạch T; Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 23 tháng 8 năm 2015 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 25/5/2018 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 22/5/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố hồ Chí Minh xử phạt 05 năm năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 19/02/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 24/8/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cở sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng. Tháng 8/2014, bị cáo chấp hành xong hình phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2023 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: G L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Ngọc Q, sinh năm 1969
Địa chỉ: B ấp B, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 26/8/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển số 70L7 – 4223 đi công việc từ B đến Quận E. Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe đến ngã tư C-T, trước Ngân hàng S (địa chỉ: D - D C, Phường A, Quận E) thì phát hiện chị Nguyễn Thị H1 dừng xe mô tô biển số: 79N1 –68733 đang cầm điện thoại di động hiệu Xiaomi trên tay để sử dụng. H nảy sinh ý định cướp giật chiếc điện thoại trên của chị H1 nên đã điều khiển xe mô tô chạy ngược chiều đường C, đối diện xe của chị H1, áp sát bên trái xe chị H1 và dùng tay trái cướp giật được chiếc điện thoại trên của chị H1 rồi tăng ga xe bỏ chạy về hướng về H. Lúc này, anh Đào Xuân P đang lưu thông trên đường chứng kiến được vụ việc nên truy đuổi ép ngã xe được H tại giao lộ N - C. H tiếp tục bỏ xe chạy bộ đến trước nhà số A LT, Phường A, Quận E thì bị anh P đuổi kịp, đồng thời có cán bộ Công an P1, Quận E tuần tra phát hiện hỗ trợ bắt quả tang H cùng vật chứng, phương tiện giao đến Công an P2, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết quả định giá tài sản số 128/KL-HĐĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự có kết quả định giá như sau:
Điện thoại di động hiệu Xiaomi và ốp lưng điện thoại di động đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 80% giá 1.500.000đ/chiếc.
Vật chứng: 01 điện thoại di dộng màu đen, hiệu Xiaomi có ốp lưng có gắn kèm số tiền 930.000 đồng và 01 thẻ Visa Ngân hàng V tên Nguyễn Thị H1; 01 (một) áo khoác màu đỏ; 01 (một) nón kết màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen sọc dọc trắng đỏ; 01 (một) đôi dép màu xám có ghi chữ NEVER LOOK BACK; 01 (một) quần jean màu đen; 01 (một) mắt kính nhựa màu xanh rêu; 01 (một) xe mô tô màu vàng, kiểu dáng Wave gắn biển số 70L7-4223, số khung: RRKWCB2UMAXB52223, số máy VDGZS152FMH-N-326153; 01 điện thoại màu đen hiệu Redmi.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Nguyễn Thị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
Bản cáo trạng số: 44/CT-VKS-Q5 ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát người chị Nguyễn Thị H1 dùng tay trái cướp giật chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu đen có trị giá 1.500.000 đồng của chị H1 rồi H tăng ga xe bỏ chạy tẩu thoát, sau đó bị phát hiện, bắt quả tang. Do đó, Viện kiểm sát giữ
nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, i Khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H với mức án từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tù; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn H không có ý kiến tranh luận, bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Tại phiên tòa công khai, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi điều khiển xe mô tô áp sát người chị Nguyễn Thị H1 dùng tay trái cướp giật chiếc điện thoại di động hiệu Xiaomi, màu đen có trị giá 1.500.000 đồng của chị H1 rồi tăng ga xe bỏ chạy tẩu thoát, sau đó bị phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo sử dụng xe mô tô làm phương tiện cướp giật tài sản gây nguy hiểm cho người đi đường nên thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm”. Ngoài ra, bị cáo đã phạm tội rất nghiêm trọng, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, i Khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, nhưng vì tham lam muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định đủ tác dụng giáo dục, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
- Về hình phạt bổ sung: Không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
-
Về xử lý vật chứng:
01 điện thoại di dộng màu đen, hiệu Xiaomi có ốp lưng có gắn kèm số tiền 930.000 đồng và 01 thẻ Visa Ngân hàng V tên Nguyễn Thị H1 là tài sản của chị Nguyễn Thị H1 bị Nguyễn Văn H chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã lập biên bản trao trả cho chị H1 nên Tòa không xét.
01 điện thoại màu đen hiệu Redmi có số Imei1: 869153062713281/00, số I: 869153062713299/00 là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
01 (một) áo khoác màu đỏ; 01 (một) nón kết màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen sọc dọc trắng đỏ; 01 (một) đôi dép màu xám có ghi chữ NEVER LOOK BACK; 01 (một) quần jean màu đen; 01 (một) mắt kính nhựa màu xanh rêu là tài sản cá nhân của bị cáo. Bị có không có yêu cầu gì về tài sản này và hiện nay tài sản này không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
01 (một) xe mô tô màu vàng, kiểu dáng Wave gắn biển số 70L7-4223, số khung: RRKWCB2UMAXB52223, số máy VDGZS152FMH-N-326153. Kết quả giám định tại Phòng PCông an T1, kết luận: số khung số máy không bị đục lại số. Nguyễn Văn H khai chiếc xe trên do cha dượng tên Trần Ngọc Q cho mượn làm phương tiện đi lại. Trần Ngọc Q khai mua chiếc xe trên cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) vào năm 2016 nhưng không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, ông Q cho H mượn để sử dụng, không biết việc H dùng xe để đi cướp giật tài sản. Xác minh được biết chiếc xe mô tô biển số 70L7-4223 có số khung: RLHHC12159Y117125, số máy: HC12E1317972 do chị Trần Thị Thúy H2 đứng tên chủ sở hữu, chị H2 khai đã bán chiếc xe trên vào năm 2014 cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng, việc mua bán không làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Riêng đối với số khung: RRKWCB2UMAXB52223, số máy VDGZS152FMH-N-326153, qua xác minh không có trong hồ sơ dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện giao thông đường bộ. Xét biển số xe không phải là biển số của chiếc xe tang vật và hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Riêng chiếc xe có số khung: RRKWCB2UMAXB52223, số máy VDGZS152FMH-N-326153 bị cáo có được không rõ nguồn gốc và hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu. Do đó, cần giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 (ba) tháng. Nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Nguyễn Thị H1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Tòa không xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm d, i Khoản 2 Điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2023.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại màu đen hiệu Redmi có số Imeil: 869153062713281/00, số I: 869153062713299/00.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu đỏ; 01 (một) nón kết màu đen; 01 (một) nón bảo hiểm màu đen sọc dọc trắng đỏ; 01 (một) đôi dép màu xám có ghi chữ NEVER LOOK BACK; 01 (một) quần jean màu đen; 01 (một) mắt kính nhựa màu xanh rêu; 01 biển số 70L7-4223.
Giao Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu 01 (một) xe mô tô màu vàng, kiểu dáng Wave có số khung: RRKWCB2UMAXB52223, số máy VDGZS152FMH-N-326153 trong thời hạn 03 (ba) tháng, nếu hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước
(Hiện vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2024).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội "cướp giật tài sản"
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Cướp giật tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Văn Hiệp phạm tội cướp giật tài sản. Bị hại là Nguyễn Thị H
