| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày: 23-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mười .
Thẩm phán: Bà Lê Thị Mỹ Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Đức Nhơn.
- - Ông Nguyễn Thành Nam.
- - Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thùy Vi – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian xét xử số: 181/TB-TA ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thanh H, sinh ngày 25/5/1985 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú: Tổ A, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Nguyễn Thanh B và bà Nguyễn Thị A; có chồng nhưng đã ly hôn và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 23/12/2022 đến nay; bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa theo yêu cầu cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H: Ông Lê Hoàng H1 - Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: A P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị hại: Bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1963; địa chỉ: 1 T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Xuân V – Luật sư Văn phòng L1 và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số B N, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đức A1, sinh năm 1975; trú tại: Tổ E, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân V, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Kim A2, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Ông Nguyễn D, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Ông Phạm Cao V1, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ B, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ C, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết nhau từ trước nên bà Lê Thị Kim N có hỏi Nguyễn Đức A1 mua đất để đầu tư. Trước đó, Đức A1 nghe Nguyễn Thị Thanh H và Nguyễn Xuân V (Em rể H) buôn bán đất bên xã T, thành phố Q nên Đức A1 giới thiệu bà N gặp H và V.
Ngày 07/5/2022, H gặp bà N và giới thiệu với bà N là gia đình H có nhiều người làm ngành Công an, chồng của H làm Công an, H cũng đã từng làm Công an, nhưng do con của H bị bệnh nên H nghỉ việc ở nhà chăm sóc con. Biết bà N là người có nhu cầu mua đất nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà N để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Để thực hiện mục đích của mình, H rủ bà N tham gia góp vốn mua 03 thửa đất, cụ thể:
- - Thửa đất số 402; tờ bản đồ số 11; ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 248 m², do ông Nguyễn Văn T (Sinh năm 1989, ở T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên chủ sở hữu.
- - Thửa đất số 425; tờ bản đồ số 11; ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 854,1 m², do bà Nguyễn Thị Kim A2 (Sinh năm 1964, ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên chủ sở hữu.
- - Thửa đất số 686, tờ bản đồ số 6; ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 478,6 m², do bà Nguyễn Thị Minh T1 (Không rõ năm sinh, địa chỉ) đứng tên chủ sở hữu.
Nguyễn Thị Thanh H đã nói dối với bà N rằng 03 thửa đất trên là của 03 chị em, liền kề với nhau nên bán chung, các thửa đất này ở khu làng nghề T, phía sau Trung tâm y tế huyện S. Ba chủ đất đã đồng ý bán cho H với tổng số tiền là 1.400.000.000 đồng, H nói với bà N đã đặt cọc cho ông T và bà A2 số tiền 30.000.000 đồng để mua đất, giá này rất rẻ, sau khi mua xong sẽ chuyển đổi mục đích sử dụng, phân lô bán sẽ có lời rất nhiều. Nghe vậy, bà N đồng ý tham gia góp vốn mua đất. Bị cáo H và bà N thống nhất, mỗi người góp 40% vốn, Vũ góp 20% vốn. Theo đó, bà N sẽ góp số tiền 560.000.0000 đồng (Tương đương 40%) để mua 03 thửa đất nói trên. Bà N có bảo H dẫn đi xem các thửa đất trên thì H nói đã làm việc với người bán đất, bảo muốn mua đất làm nhà xưởng, nếu bà N đến hỏi nữa thì người bán sẽ nghi ngờ, không bán đất hoặc tăng giá bán đất. Tin là thật, bà N đã đưa cho H số tiền 560.000.000 đồng để góp vốn mua 03 thửa đất trên.
Sau khi nhận tiền, để bà N tin tưởng H đã gửi thông tin 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà A2, chứng minh nhân dân và hộ khẩu của bà N và ông Nguyễn Xuân V qua ứng dụng Zalo cho Phạm Cao V1 (Sinh năm 1988, trú tại: Tổ B, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) là chuyên viên phòng công chứng Ngô Văn H2 và nhờ V1 làm Hợp đồng góp vốn và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi V1 làm xong các hợp đồng, V1 nói H kêu chủ các thửa đất đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến Văn phòng công chứng Ngô Văn H2 để ký hợp đồng, H nói với V1 để H gọi chủ đất đến ký hợp đồng sau.
Ngày 01/6/2022, H gọi bà Lê Thị Kim N đến Văn phòng công chứng Ngô Văn H2 (Số A đường L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) ký hợp đồng góp vốn và hợp đồng chuyển nhượng. Nội dung các hợp đồng như sau:
- - Hợp đồng góp vốn giữa bà Lê Thị Kim N và ông Nguyễn Xuân V, cùng góp 560.000.000 đồng, tương đương với 40% số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng các thửa đất: Thửa đất số 425; tờ bản đồ số 11; địa chỉ: G, thôn C, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 854,1 m²; Thửa đất số 402; tờ bản đồ số 11; địa chỉ: xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 248m².
- - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 402; tờ bản đồ số 11; địa chỉ: xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 248m² của ông Nguyễn Văn T (Sinh năm 1989, trú tại: Tịnh Ấ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) cho bà Lê Thị Kim N và ông Nguyễn Xuân V với giá là 400 triệu đồng.
Thấy không đúng với nội dung đã thỏa thuận, bà N hỏi H thì H giải thích: Vì H là vợ Công an, không đứng tên mua bán đất được nên V sẽ đứng tên thay H, bây giờ làm hợp đồng góp vốn 02 thửa đất 402 và 425, sau này thửa đất 686 H sẽ làm thủ tục cho bà N đứng tên; còn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bà N ký trước đi, ông T sẽ ký tên sau. Nhưng chỉ có ông V đến ký Hợp đồng góp vốn, ngoài ra không thấy ai khác đến ký. Bà N hỏi thì H nêu nhiều lý do, hẹn bà N hết lần này đến lần khác nhưng vẫn không chuyển quyền sử dụng 03 thửa đất trên cho bà N như đã thỏa thuận.
Vì H chưa từng liên lạc, gặp mặt và không có quan hệ quen biết với 03 chủ thửa đất và cũng không đặt cọc để mua đất như đã nói với bà N nên khi bà N nhiều lần yêu cầu bị cáo H cung cấp sổ đỏ chính và hợp đồng chuyển nhượng 03 thửa đất đã góp vốn mua và số điện thoại của 03 người chủ sở hữu đất để bà N liên lạc với chủ đất; H đã nảy sinh ý định cung cấp số điện thoại không có thật của ông T (Chủ đất) cho bà N. Ngày 30/6/2022, Hà tự nghĩ ra số điện thoại 0982.297.xxx và dùng tài khoản Zalo của H tên là “Gau Panda” gửi qua Zalo bà N và nói với bà N đây là số điện thoại của ông T chủ thửa đất số 402 để bà N liên lạc, bà N nhiều lần điện thoại vào số trên nhưng không liên lạc được. Ngoài ra, H còn gửi cho bà N hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của 03 thửa đất trên, cụ thể: Mặt ngoài của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Kim A2, sinh năm 1964, CMND số [...], địa chỉ thường trú: xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Mặt ngoài của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1989, CMND số [...], địa chỉ thường trú: xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Mặt trong của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 686, tờ bản đồ số 6, địa chỉ: V, thôn Đ, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích 478,6m².
Bà N có hỏi hình ảnh các mặt còn lại của giấy chứng nhận quyền sở hữu các thửa đất trên thì H hứa hẹn sẽ chụp gửi nhưng không thực hiện. Nghi bị lừa, bà N yêu cầu H trả tiền, H hứa hẹn nhiều lần sau đó viết giấy hẹn, giấy cam kết trả nợ nhưng không trả nên bà N gửi đơn tố cáo hành vi của H đến Cơ quan công an.
Quá trình điều tra H khai nhận nguồn gốc những hình ảnh sổ đỏ trên là do ông Phạm T2 (Không rõ lai lịch) gửi qua Z cho H, điện thoại của H đã rơi mất nên không chứng minh được nguồn gốc những hình ảnh sổ đỏ trên.
Ngày 30/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q có Công văn số: 348/YC-CSHS yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q cung cấp thông tin chi tiết về chủ sở hữu và quá trình giao dịch về quyền sử dụng đất từ tháng 04 năm 2022 đến nay có liên quan đến 03 thửa đất nêu trên. Ngày 12/10/2022 Văn phòng Đ chi nhánh thành phố Q có công văn số 1803 trả lời như sau:
- - Thửa đất số 402; tờ bản đồ số 11, ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 248m², do ông Nguyễn Văn T (Sinh năm 1989, ở T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên chủ sở hữu.
- - Thửa đất số 425; tờ bản đồ số 11, ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 854, 1 m², do bà Nguyễn Thị Kim A2 (Sinh năm 1964, ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên chủ sở hữu.
- - Thửa đất số 686; tờ bàn đồ số 6, ở xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; diện tích 478,6m², do ông Nguyễn D (Sinh năm 1946, ở T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi) đứng tên chủ sở hữu (Không phải bà Nguyễn Thị Minh T1 đứng tên chủ sở hữu như Nguyễn Thị Thanh H cung cấp thông tin cho bà Lê Thị Kim N).
Quá trình điều tra: Các chủ sở hữu nói trên xác định không có nhu cầu bán đất và từ trước đến nay không quen biết, không giao dịch bán đất với người nào có tên là Nguyễn Thị Thanh H, cũng không có ai đến hỏi mua các thửa đất trên. Ngoài ra, các thửa đất trên cũng không liền kề nhau, ông Nguyễn Văn T cũng không sử dụng số điện thoại 0982.297.xxx.
Ngày 08/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh có Công văn số: 175/YC-CSHS gửi Ngân hàng N2 chi nhánh tỉnh Q yêu cầu sao kê các tài khoản ngân hàng do Nguyễn Thị Thanh H đứng tên, kết quả xác định: Bà Lê Thị Kim N chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị Thanh H là có thật.
* Kết luận giám định tư pháp:
- - Kết luận số 1158/KLGĐ-PC09 ngày 24/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Trích xuất được dữ liệu cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, cuộc gọi nhỡ, nội dung tin nhắn đi, tin nhắn đến trên ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo đăng nhập trên điện thoại có tên “Kim Nhơn” và tài khoản Z có tên lưu trên điện thoại “Gấu Panda” (Nội dung chi tiết được được thể hiện trong 01 phụ lục gồm 13 trang A4 (có phụ lục kèm theo).
- - Kết luận số 215/KLGĐ-PC09 ngày 03/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Toàn bộ chữ viết, chữ ký trên “Giấy nhận tiền; ghi ngày 20/5/2022", “Giấy hẹn; ghi ngày 30/5/2022”, “Giấy xác nhận và cam kết trả nợ; ghi ngày 24/7/2022” với chữ viết chữ ký trên 05 (Năm) bản tự khai, tường trình của Nguyễn Thị Thanh H là do cùng một người viết, ký ra.
Cáo trạng số: 91/CT-VKSQNG-P1 ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố Nguyễn Thị Thanh H về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H từ 08 đến 09 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh H trả lại cho bị hại bà Lê Thị Kim N số tiền 560.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục cho bà N 5.000.000 đồng, hiện Cơ quan điều tra đã nộp vào tài khoản tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q. Bị cáo còn tiếp tục phải trả lại cho bà N 555.000.000 đồng còn lại.
Luận cứ bào chữa của Luật sư Lê Hoàng H1 cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H: Thống nhất và không có ý kiến về tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo; tác động gia đình khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo có ông nội - ông Nguyễn N1, cha đẻ là ông Nguyễn Thanh B và em ruột - anh Nguyễn T3 là những người được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huy chương, giấy khen; bản thân bị cáo H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng III nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xử phạt bị cáo 07 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
[1] Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt người bào chữa; bị hại đề nghị xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đức A1, Nguyễn Xuân V vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị Kim A2, Nguyễn D, Phạm Cao V1, Nguyễn Thanh B vắng mặt không có lý do.
Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 291, 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục xét xử.
[2] Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định.
[II] Về nội dung:
[1] Tại phiên tòa, Nguyễn Thị Thanh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong vụ án và xem xét tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Như vậy, đã có đủ cơ sở để xác định:
Nguyễn Thị Thanh H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, H nhận thức và biết rõ việc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tiền của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền trả nợ và sử dụng cho mục đích tiêu xài cá nhân, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của bà Lê Thị Kim N nên H đưa ra các thông tin gian dối, không có thật về việc H đã gặp trực tiếp, đặt cọc với các chủ đất để mua 03 thửa đất số 402, 425, 686 tại xã T, thành phố Q và làm các hợp đồng góp vốn, hợp đồng đặt cọc để bà N tin tưởng việc mua đất là có thật nên đồng ý góp vốn mua 03 thửa đất trên với số tiền 560.000.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được số tiền 560.000.000 đồng của bà N, H không dùng số tiền này để mua đất mà sử dụng vào mục đích trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H đã thành khẩn khai báo; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo có ông nội là ông Nguyễn N1, cha đẻ là ông Nguyễn Thanh B và em ruột là anh Nguyễn Thanh H3 là những người được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huy chương, giấy khen; bản thân bị cáo H được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng III nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải có trách nhiệm trả lại cho bị hại Lê Thị Kim N số tiền 560.000.000đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường trước số tiền 5.000.000đồng, số tiền này hiện đang được tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo còn phải tiếp tục phải trả số tiền còn lại cho bị hại Lê Thị Kim N là 555.000.000đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu đồng).
[5] Đối với ông Nguyễn Đức A1:
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09/4/2024, bị hại Lê Thị Kim N khai rằng chính ông Nguyễn Đức A1 là người chở bà đến xã T để chỉ khu vực đất mà bị cáo Nguyễn Thị Thanh H dự định chuyển nhượng cho bà N. Nguyễn Đức A1 là người đưa ra thông tin, đặt vấn đề với bị hại Lê Thị Kim N về việc bản thân Đức A1 có khả năng chuyển đổi mục đích quyền sử dụng đất sau khi bà N nhận chuyển nhượng xong và đưa ra thông tin là bị cáo H, ông Nguyễn Xuân V đã nhận chuyển nhượng được đất ở xã T nếu bà N muốn mua thì phải chuyển tiền đặt cọc trước. Từ những thông tin trên của ông Nguyễn Đức A1 nên bà Lê Thị Kim N tin tưởng đã chuyển tiền cho ông Nguyễn Đức A1 số tiền 30.000.000đồng.
Ngoài ra, bị cáo H khai nhận khi bị cáo yêu cầu ông Nguyễn Đức A1 trả lại số tiền 50.000.000đồng để bị cáo trả lại cho bà N cho hết nợ nhưng ông Đức A1 từ chối trả lại số tiền 50.000.000đồng cho bị cáo để bị cáo trả lại cho bà N.
Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhằm làm rõ nội dung trên. Quá trình điều tra bổ sung thể hiện: Ông Nguyễn Đức A1 là người giới thiệu bà Lê Thị Kim N cho bị cáo H, việc thỏa thuận, thống nhất góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giữa bà N và bị cáo H, việc thỏa thuận như thế nào thì ông Nguyễn Đức A1 không biết. Bản thân ông có chở bà N đến xã T Tây xem đất ở khu vực này nhưng không chỉ cụ thể thửa đất nào cho bà N. Khi bị cáo H tìm được các thửa đất trên thì H nhờ ông kiểm tra có chuyển đổi và tách thửa được không. Ông kiểm tra tại Phòng Tài nguyên môi trường thành phố Q thì được biết các thửa đất trên phù hợp quy hoạch và được chuyển nhượng, chuyển đổi mục đích nên ông nói với H và bà N nếu mua được các thửa đất trên, ông sẽ nhận làm thủ tục chuyển nhượng, chuyển đổi mục đích sử dụng và tách thửa cho bà N. Đối với số tiền 30.000.000đồng mà bà N đưa cho ông để đặt cọc tiền góp vốn mua đất với bị cáo H giúp bà N. Ông A1 đã đưa số tiền trên cho bị cáo H, bị cáo H cũng thừa nhận đã nhận số tiền 30.000.000đồng đặt cọc của bà N từ ông Đức A1. Nguyễn Đức A1 không tham gia việc thỏa thuận góp vốn và không được hưởng lợi gì.
Đối với số tiền 50.000.000đồng: Bị cáo H khai nhận tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09/4/2024, “Sau ngày 06/5 thì bà N có chuyển cho bị cáo 170.000.000đồng thì ông Đức A1 yêu cầu bị cáo chuyển cho ông 20.000.000đồng qua tài khoản chị H4 và ông Đức A1 nhận của con bà N 30.000.000đồng. Tổng cộng là 50.000.000đồng”, khi bị cáo yêu cầu ông Nguyễn Đức A1 trả lại số tiền 50.000.000đồng để bị cáo trả lại cho bà N cho hết nợ thì quá trình điều tra bổ sung, bị cáo H thay đổi lời khai: “Ông Đức A1 không nợ bị cáo số tiền 50.000.000đồng. Lời khai tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09/4/2024 của bị cáo là không đúng”. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/8/2024, bị cáo khẳng định số tiền 50.000.000đồng mà bị cáo và ông Nguyễn Đức A1 trao đổi tin nhắn thông qua ứng dụng Z không liên quan đến số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà N.
Từ những căn cứ nêu trên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã kết luận Nguyễn Đức A1 không có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo Nguyễn Thị Thanh H.
[6] Đối với ông Nguyễn Xuân V:
Nguyễn Xuân V khai rằng thực tế ông không góp vốn để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Lê Thị Kim N. Hội đồng xét xử cũng đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, nhằm làm rõ vai trò của Nguyễn Xuân V giúp sức cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H như thế nào trong vụ án này.
Quá trình điều tra bổ sung thể hiện: Nguyễn Xuân V không biết việc góp vốn 20% để mua đất với bị cáo H và bà N. Bị cáo H là chị dâu của V nên khi bị cáo H điện thoại nói đang đưa con đi điều trị bệnh tại Đà Nẵng và nhờ V đến Văn phòng C Ngô Văn H2 để ký hợp đồng góp vốn mua đất, Nguyễn Xuân V có hỏi H ký hợp đồng có sao không, có ảnh hưởng đến pháp luật không thì H nói không sao và bảo V đến ký giúp H, khi về H sẽ đến phòng công chứng sửa lại hợp đồng. Vì tin tưởng H nên V đến ký hợp đồng với bà N giúp H. Tại thời điểm V ký hợp đồng góp vốn với bà N, bị cáo H đã nhận và chiếm đoạt số tiền 560.000.000đồng góp vốn mua đất của bà Lê Thị Kim N.
[7] Đối với ông Phạm Cao V1 về việc soạn thảo hợp đồng góp vốn và hợp đồng chuyển nhượng các thửa đất nhưng không biết việc H có hành vi phạm tội và những Hợp đồng này chưa phát sinh hiệu lực pháp luật nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
[8] Đối với ông Phạm T2, ông Nguyễn Văn T4 (Không rõ nhân thân, lai lịch) là người gửi những hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo Nguyễn Thị Thanh H qua zalo, điện thoại bị cáo H đã làm mất nên không chứng minh được nguồn gốc những giấy trên và Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, người bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 26.200.000đồng (20.000.000 + 155.000.000 x 4%) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật đân sự:
- Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi suất theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với khoản tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi thi hành xong bản án.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; các điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H 08 (T5) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (Ngày 23/12/2022).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải trả lại cho bị hại Lê Thị Kim N số tiền 560.000.000đồng.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng gia đình bị cáo Nguyễn Thị Thanh H tự nguyện nộp để đảm bảo thi hành án. (Theo Ủy nhiệm chi lập ngày 15/4/2024 của Phòng PC02 - Công an tỉnh Q).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 26.200.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mười |
10
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thanh H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
