Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/DS-ST

Ngày: 23/7/2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU - TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Bá Lý.
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Ông Thuỷ Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 480/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1975; Địa chỉ: 625 đường T, phường C, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 02, phường C, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày:

Bà và bà Nguyễn Thị Thu H có mối quan hệ quen biết nhau. Ngày 27/11/2023 bà H có vay bà số tiền 50.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng. Bà H hẹn ngày 28/11/2023 sẽ trả tiền lãi và gốc cho bà. Lãi suất hai bên thoả thuận là 0,2%/ngày. Đến thời hạn trả nợ bà T đã liên hệ yêu cầu bà H trả tiền nhưng bà H không trả. Vì vậy bà T khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu H phải trả số tiền gốc còn nợ 50.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày khởi kiện là 50.000.000 đồng x 0,2%/ngày x 10 ngày là 1.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án. Ngày 22/7/2024 bà T có nộp đơn xét xử vắng mặt và trình bày đối với tiền lãi bà yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 27/11/2023 đến ngày xét xử hôm nay.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án triệu tập đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do nên đã không trình bày được quan điểm của mình về nội dung của vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu như sau: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H; địa chỉ: Tổ 02, phường C, thành phố P, tỉnh G phải trả số tiền còn nợ. Do đó, theo quy định tại khoản 3 Điều 26 thì đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn bà Trần Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T và bà H.

[3] Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với tiền lãi, chỉ yêu cầu tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm, việc thay đổi đối với yêu cầu khởi kiện không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Trần Thị T yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải trả 50.000.000 đồng nợ gốc và trả lãi theo lãi suất 10%/năm từ ngày 27 tháng 11 năm 2023 đến ngày 23 tháng 7 năm 2024, đồng thời cung cấp chứng cứ là Giấy mượn tiền ngày 27 tháng 11 năm 2023 có chữ viết và chữ ký của bên mượn tiền bà Nguyễn Thị Thu H. Hai bên thỏa thuận thời hạn trả nợ, không xác định lãi suất. Xét hợp đồng vay tiền giữa bà T và bà H là hợp đồng vay tài sản kỳ hạn, có lãi và được giao kết hợp pháp. Bà H đã được Tòa án cấp tống đạt, thông báo đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo nhưng không có ý kiến phản đối nên có căn cứ xác định chứng cứ này là đúng sự thật. Vì từ khi vay đến nay bà H không trả gốc và lãi cho bà T nên bà T khởi kiện yêu cầu bà H phải trả gốc và tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm là có căn cứ theo quy định tại Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc bà H phải trả cho bà T số tiền gốc là 50.000.000 đồng và tiền lãi 3.286.530 đồng, tổng cộng 53.286.530 đồng.

[5] Về án phí: Vì yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Thị T được chấp nhận nên bà T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 144, Điều 147, Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 463, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T, cụ thể như sau:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho bà Trần Thị T số tiền 53.286.530 đồng (Năm mươi ba triệu, hai trăm tám muoiw sáu, năm trăm ba mươi đồng), trong đó nợ gốc 50.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày 23/7/2024 là 3.286.530 đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 2.664.327 đồng (Hai triệu, sáu trăm sáu mươi bốn nghìn, ba trăm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Trần Thị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà T 1.275.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001116 ngày 18/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku.

Thời hạn kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (23/7/2024), các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn trên đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Loan Phương

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 77/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà T cho bà H vay 50.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng nhưng quá thời hạn trả nợ bà H không trả cho bà T nên bà T khởi kiện yêu cầu bà H phải trả tiền gốc và lãi theo mức lãi suất 10%/năm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger