TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-7-2024 V/v tranh chấp về ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Tiến Danh. |
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Ninh;
- Bà Trần Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Nhựt Quang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lâm Quốc Bảo - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 168/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1984. “vắng mặt”
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành P, sinh năm 1985. “vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/3/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Lê Thị L đã khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thành P trên cơ sở tìm hiểu nhau một thời gian thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện G và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2007. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hợp nhau về tính tình, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ trước tết nguyên đán năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa giải hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Thành P.
Về con chung: Bà và ông P có hai con chung tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 27/10/2004 và Nguyễn Thị Châu Ngọc L1, sinh ngày 01/11/2006. Hiện tại, cháu L1 đang sống với ông P. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L1, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Bà và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết vợ chồng không có nợ chung ai.
Bị đơn – ông Nguyễn Thành P đã khai:
Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất quan hệ hôn nhân, nguyên nhân mâu thuẫn như lời trình bày của bà L. Vợ chồng ly thân từ trước tết nguyên đán năm 2024 cho đến nay. Ông vẫn còn thương vợ con, mong muốn gia đình hàn gắn nên không đồng ý ly hôn đối với yêu cầu của bà L.
Về con chung: Ông và bà L có hai con chung tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 27/10/2004 và Nguyễn Thị Châu Ngọc L1, sinh ngày 01/11/2006. Hiện tại, cháu L1 đang sống với ông. Khi ly hôn, cháu L1 có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng, không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu N đã thành niên, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Ông và bà L tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Ông cam kết vợ chồng không có nợ chung ai.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do là chưa chấp hành và chưa thực hiện đúng về quyền, nghĩa vụ tố tụng. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi vào nghị án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình đề nghị: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông P; về con chung: giao cháu Nguyễn Thị Châu Ngọc L1 cho bà L nuôi dưỡng; về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về tố tụng: Bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành P, ông P có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, ông P đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ nhưng ông P vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông P. Bà L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà L. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về hôn nhân: Bà L và ông P trên cơ sở tự nguyện và đi đến hôn nhân từ năm 2003 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện G vào ngày 20/4/2007 (theo Giấy kết hôn số 49/2007 của UBND xã B) nên hôn nhân của bà L và ông P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Về nguyên nhân mâu thuẫn, bà L và ông P thống nhất do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn hợp nhau về tính tình nên ly thân từ trước tết nguyên đán năm 2024 cho đến nay. Tuy nhiên, ông P không đồng ý ly hôn đối với yêu cầu của bà L. Tòa án tiến hành hòa giải để tạo điều kiện cho bà L và ông P hàn gắn, đoàn tụ nhưng không thành. Ngoài ra, bà L đã khởi kiện yêu cầu ly hôn một lần đối với ông P, vợ chồng hàn gắn nên rút đơn, nhưng đến nay vẫn không hàn gắn được. Qua xác minh, thể hiện cuộc sống vợ chồng của bà L, ông P không hạnh phúc như lời trình bày bà L. Xét thấy, hôn nhân giữa bà L và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Bà L và ông P thống nhất có hai con chung tên Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 27/10/2004 và Nguyễn Thị Châu Ngọc L1, sinh ngày 01/11/2006. Hiện tại, cháu L1 đang sống với ông P. Khi ly hôn, bà L yêu cầu nuôi dưỡng cháu L1 và cháu L1 cũng có nguyện vọng sống cùng với bà L nên giao cháu L1 cho bà L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo theo Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận bà L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Đối với chị N đã thành niên, tự lao động nuôi sống bản thân nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông P không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[5] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Bà Lê Thị L phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Thành P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị L với ông Nguyễn Thành P. Bà L được ly hôn với ông P.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Châu Ngọc L1, sinh ngày 01/11/2006 cho bà L trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Ông Nguyễn Thành P được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở ông P thực hiện quyền này.
Đối với chị Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 27/10/2004 đã thành niên, tự lao động nuôi sống bản thân nên không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông P không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, cho khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0013843 ngày 09/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Ông Nguyễn Thành P không phải chịu án phí.
- Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị L, ông Nguyễn Thành P có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Tiến Danh |
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con giữa Lê Thị L - Nguyễn Thành P
