Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày: 23/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Thủy và ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: ông Đặng Hồng Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST - HS ngày 14/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30 tháng 6 năm 1997, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Không xác định được; Họ và tên mẹ: Trần Thị L - sinh năm: 1965; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 31/12/2023 đến ngày 09/01/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, Trần Minh N đi làm ở tỉnh Thanh Hóa thì gặp một người đàn ông (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) và hỏi: “Có mua nem chua không?”, N trả lời: “Có pháo thì mua”. Nghe vậy, người đàn ông bỏ đi. Một lúc sau, người đàn ông quay lại hỏi N: “Có mua pháo thật không?” thì N nói:“Có”, người đàn ông nói tiếp: “Mi mua mấy bánh”, N nói:“Em mua năm bánh giá mấy anh?”. Người đàn ông nói với N năm bánh pháo có giá ba triệu đồng thì N đồng ý và đưa cho người đàn ông số tiền 3.000.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền, đi một lúc rồi quay lại đưa cho N 01 bì xác rắn màu trắng bên trong có chứa 05 khối pháo. Sau khi mua được pháo, Ngọc b xe khách đi về nhà rồi cất giấu pháo trong tủ quần áo của N. Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30 tháng 12 năm 2023, N lấy pháo đem đi nơi khác để cất giấu, khi N đi đến khu vực đường liên xóm thuộc xóm C, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an xã D và Công an xã D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Trần Minh N về hành vi tàng trữ hàng cấm, thu giữ trên tay trái của N đang cầm 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong có chứa 05 khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm, kích thước giống nhau, mỗi khối có kích thước (15x15x15) cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc, in chữ nước ngoàinghi là pháo nổ. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tangrồi dẫn giải Trần Minh N về trụ sở để tiếp tục điều tra, làm rõ.

Ngày 31/12/2023, công an xã D, huyện D đã chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D để tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lạingày 31/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định 05 khối hình hộp chữ nhật thu giữ khi bắt quả tang Trần Minh N có tổng khối lượng 6,825 kg (sáu phẩy tám hai lăm kilogam).Tại Kết luận giám định số 73/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tinh N1 kết luận: Mẫu vật thu giữ của Trần Minh N gửi tới giám định là pháo, thuộc loại pháo nổ.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS-DC ngày 11/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Trần Minh N về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/5/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì xác rắn màu trắng bên trong có chứa 05 (năm) khối pháo có đặc điểm giống nhau, có tổng khối lượng là 6,825 kg (sáu phẩy tám trăm hai mươi lăm kilogam). Cơ quan điều tra đã lấy 02 (hai) khối có tổng khối lượng 2,738kg (hai phẩy bảy trăm ba mươi tám kilogam) trưng cầugiám định. Hiện còn 03 khối có tổngkhối lượng 4,087(bốn phẩy không trăm tám mươi bảy kilogam), đang được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện D.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, tại khu vực đường liên xóm thuộc xóm C, xã D, huyện D, Tổ công tác Công an xã D phối hợp với Công an xã D kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Trần Minh N đang có hành vi tàng trữ 6,825 kg (sáu phẩy tám trăm hai mươi lăm ki lô gam) pháo nổ. Số pháo này, N mua với giá 3.000.000 đồng nhằm mục đích để sử dụng. Như vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ pháo nổ.

[3]. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong việc quản lý hàng cấm là pháo nổ. Bị cáo biết rõ pháo nổ là loại hàng hóa mà nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán, vận chuyển nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an trên địa bàn, thể hiện sự xem thường pháp luật nên cần phải lên một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu trong trường hợp ít nghiêm trọng, nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là đủ nghiêm.

Tình tiết tăng nặng: không

Đối với người đàn ông bán pháo cho Trần Minh N, theo lời khai của N, do không xác định được họ, tên, địa chỉ cụ thểnên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Minh N phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: Trần Minh N 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/5/2024)

Giao bị cáo cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo điều 92 Luật thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng catton ban dầu theo đúng quy định, được dán kín, trên mép dán có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có chữ ký của cán bộ tham gia, đối tượng Trần Minh N, và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An bên trong có chứa: 03 khối hình hộp, mỗi khối có kích thước (15x15x15) cm, bốn mặt bên được bọc bằng giấy màu đỏ, có in chữ nước ngoài, hai bên mặt dưới được bọc bằng giấy màu vàng là pháo nổ có tổngkhối lượng 4,087 (bốn phẩy không trăm tám mươi bảy kilogam và bao bì niêm phong ban đầu.

Số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện D, tỉnh Nghệ An theo Phiếu nhập kho số 27/PNK ngày 17/01/2024.

3. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Minh N phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an, THA Hình sự huyện Diễn Châu;
  • - THA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TỌA

Nguyễn Danh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ hàng cấm (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xp treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger