Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bảng
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Xuân Vượng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/HSST ngày 14/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST – HS ngày 03/4/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Thị N, sinh năm 1972; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do. Văn hóa 7/12; Bố: Trịnh Văn N1, sinh năm 1938 (đã chết); Mẹ: Khổng Thị L, sinh năm 1939 (đã chết); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ ba; Chồng: Khổng Văn M, sinh năm 1968; Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại và có mặt tại phiên toà.

  • * Bị hại: Ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1955 (Đã chết)
  • Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • * Đại diện hợp pháp cho ông Nguyễn Ngọc P:
    1. Trịnh Thị V, sinh năm 1958
    2. Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1979
    3. Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1985
    4. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982
    5. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987
  • Đại diện theo ủy quyền của bà V, chị P1, chị K, anh T: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
  • Cùng địa chỉ: Thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Khổng Văn M, sinh năm 1968 (Có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2023, Trịnh Thị N, sinh năm 1972, trú tại thôn Đ, xã Đ, thành phố B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angel, biển kiểm soát 98L2-5517 đi trên đường T theo hướng từ đường V đến đường gom cao tốc Hà Nội-Bắc Giang. Nguyên có giấy phép lái xe A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/6/2016. Khi N điều khiển xe đi đến khu vực ngã 3 giao nhau với đường đi Trường THCS xã Đ thuộc Thôn C, xã Đ, thành phố B thì lúc này có ông Nguyễn Ngọc P, sinh năm 1955, trú tại thôn C, xã Đ, thành phố B điều khiển xe đạp loại mini, nhãn hiệu Asama City đi phía trước cùng chiều cách xe mô tô do N điều khiển khoảng 3 đến 4m. Ông P điều khiển xe đạp chuyển hướng rẽ trái để vào đường đi trường THCS Đ nhưng không làm tín hiệu báo rẽ. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên xe mô tô do N điều khiển đã va chạm với xe đạp do ông P điều khiển. Phần mặt ngoài má lốp bánh xe phía trước của xe mô tô va chạm vào mặt ngoài thanh kim loại bên trái khung và cụm chi tiết cố định cần bàn đạp bên trái của xe đạp. Sau khi va chạm, xe mô tô và xe đạp bị đổ, ông PN bị ngã xuống đường. Hậu quả làm ông P bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh BBệnh viện V1 đến ngày 24/10/2023 thì chết. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn của Trịnh Thị N là 0.000 mg/l.

*Kết quả khám nghiệm hiện trường: Nơi xảy ra vụ tai nạn là khu vực ngã ba đường T - đường đi trường THCS Đ thuộc địa phận thôn C, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Đường Trần Danh T1 là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 16m, ở giữa có vạch kẻ sơn màu vàng, dạng nét đứt chia thành hai chiều đường. Đường đi trường THCS Đ là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 7m. Trước khu vực ngã ba trên đường T có cắm biển báo giao nhau với đường không ưu tiên « W.207B » và « W.207C » ; trên đường đi trường THCS Đ có cắm biển báo giao nhau với đường ưu tiên « W.208 ». Bên phải, bên trái đường T được tính từ đường V đi đường gom cao tốc Hà Nội-Bắc Giang.

Vị trí (1): Là vị trí xe đạp đổ bên trái nằm trên mặt đường, đầu xe chếch hướng Đông Nam, đuôi xe chếch hướng T. T2 trục bánh trước cách điểm mốc và mép đường chuẩn lần lượt là 17,8m và 2,25m. T2 trục bánh sau cách mép đường chuẩn 2,7m.

Vị trí (2): Là vị trí xe mô tô biển số 98L2-5517 đổ trên mặt đường, đầu xe chếch hướng B, đuôi xe chếch hướng N2. T2 trục bánh trước cách mép đường chuẩn và tâm trục bánh sau xe đạp lần lượt là 9,1m và 7,75m. T2 trục bánh sau cách mép đường chuẩn 9,5m.

Vị trí (3): Là vị trí vết cày xước mặt đường có chiều hướng Đ-T, kéo dài đến vị trí xe đạp đổ, kích thước (3,15 x 0,3)m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 3,45m.

Vị trí (4): Là vị trí vết cày xước mặt đường, có chiều hướng Đ-T, kích thước (3,8 x 0,4)m. Điểm đầu vết là 7,9m và 5,3m. Điểm cuối vết cách mép đường chuẩn và tâm trục bánh trước xe mô tô lần lượt là 8,55m và 1m.

Vị trí (5): Là vị trí hộp nhựa, kích thước (0,53 x 0,4 x 0,4)m để lại trên mặt đường. T2 hộp cách mép đường chuẩn và điểm đầu vết cày xước mặt đường, có chiều hướng Đ-T lần lượt là 8,6m và 0,7m.

Vị trí (6): Là vị trí hộp nhựa, kích thước (0,53 x 0,4 x 0,4)m để lại trên mặt đường. T2 hộp cách mép đường chuẩn và và tâm vết (5) lần lượt là 7,55m và 2,9m.

* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Ngọc P

Khám ngoài: Đỉnh chẩm trái có vết trợt da bầm tím kích thước (15x7)cm, xung quanh sưng nề; Vùng mặt: hai mắt nhắm tự nhiên. Mũi, miệng, hai tai khô, kiểm tra không thấy dấu vết thương tích.

Vùng cổ: Cổ chắc, kiểm tra không thấy dấu vết thương tích; Vùng ngực, bụng, lưng, mông: mông trái và hông trái có đám trợt da bầm tím kích thước (20x14)cm; Tay phải: kiểm tra không thấy dấu vết thương tích; Tay trái: khuỷu tay trái có vết trọt rách da kích thước (2x2)cm, xung quanh sưng nề bầm tím kích thước (7x6)cm. Gốc ngón 3 bàn tay trái có vết thương rách da kích thước (2,5x0,5)cm.

Hai chân: kiểm tra không thấy dấu vết thương tích. Bộ phận sinh dục: Kiểm tra không thấy dấu vết thương tích; Hậu môn: không thoát phân; Kiểm tra kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương khác.

Không giải phẫu tử thi do gia đình ông P từ chối và kiên quyết không cho mỗ tử thi.

* Kết quả khám nghiệm xe ô tô BKS 98L2-5517

  • - Đo khoảng cách giữa 2 trục bánh xe là 125cm.
  • - Đo khoảng cách từ đầu tay nắm phải cách đất 100cm.
  • - Cụm đèn chiếu sáng phía trước bị vỡ khuyết kính nhựa bảo vệ kích thước (13 x 6)cm.
  • - Mặt ngoài má lốp bên phải bánh trước tại vị trí gần nhất cách chân van là 5cm theo chiều tiến của bánh xe có vết mài sát cao su sạch bụi, bề mặt bám dính chất màu xanh nghi sơn kích thước (2 x 0,05)cm. Tại vị trí tương ứng trên vành bánh xe có vết mài sát kim loại bề mặt bám dính chất màu xanh nghi sơn, kích thước (2 x 0,05)cm.
  • - Đầu ngoài để chân trước bên phải có vết mài sát kim loại, bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông, kích thước (1,2 x 0,5)cm.
  • - Cạnh ngoài giá thồ hàng bên phải xe tại vị trí thấp nhất cách đất 40cm có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông, kích thước (4 x 1)cm. Tại vị trí thấp nhất cách đất 57cm, có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông, kích thước (3,2 x 0,6)cm.
  • - Mặt ngoài đuôi bô ống xả có vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng dạng vữa bê tông, kích thước (1 x 0,5)cm.
  • - Hệ thống phanh hoạt động bình thường.

* Kết quả khám nghiệm xe đạp mini, nhãn hiệu Asama City:

  • - Đo khoảng cách giữa hai trục bánh xe là 107cm.
  • - Đo khoảng cách từ đầu tay nắm trái cách đất là 110cm.
  • - Giỏ xe bị dập vỡ nhựa.
  • - Khung xe bị cong vênh hướng từ trái qua phải.
  • - T3 kim loại bên trái tâm xe tại vị trí thấp nhất cách đất là 31cm có vết mài sát kim loại, bề mặt bám dính chất màu đen nghi cao su, kích thước (3 x 2)cm.
  • - Đầu ngoài để chân sau bên phải có vết mài sát kim loại, kích thước (3 x 2)cm. Đầu ngoài tay phanh phải có vết mài sát nhựa (1 x 1)cm.
  • - Mặt phải khung kim loại đỡ giỏ xe tại vị trí thấp nhất cách đất 55 cm có vết mài sát kim loại kích thước (6 x 1)cm.

Cơ quan điều tra đã thu thập bệnh án ngoại khoa của ông Nguyễn Ngọc P do Bệnh viện H1Bệnh viện đa khoa tỉnh B cung cấp và trưng cầu giám định để xác định nguyên nhân chết.

Bản kết luận giám định pháp y nguyên nhân chết trên hồ sơ số 4667B/23/KLTTHS-PY ngày 22/12/2023 của Trung tâm pháp y- Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  1. Các kết quả chính cần giám định:
    • - Vùng đỉnh - chẩm trái có vết chợt da bầm tím kích thước (15x7)cm, xung quanh sưng nề.
    • - Vùng hông trái và mông trái có đám chợt da bầm tím kích thước (20x14)cm.
    • - Khuỷu tay trái có vết chợt rách da kích thước (2x2)cm, xung quanh sưng nề bầm tím kích thước (7x6)cm. Gốc ngón III bàn tay trái có vết thương rách da kích thước (2,5x0,5 )cm.
    • - Tờ điều trị số 01: Bệnh nhân hôn mê, Glasgow 9 điểm, kích thích xoắn vặn toàn thân. Vết thương bàn ngón tay phải. Xây xát rải rác nhiều vùng cơ thể...Tiên lượng nặng, nguy cơ tử vong gần, giải thích rõ tình trạng bệnh cho gia đình.
    • - Phiếu chụp cắt lớp vi tính: Dập não, chảy máu khoang dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng cấp lan tỏa hai bán cầu, ưu thế bán cầu phải, phù não lan tỏa vùng đáy não. Tràn máu não thất. Các đường vỡ xương vùng thái dương, đỉnh, chẩm trái.
    • - Chẩn đoán: Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông.
    • - Trích biên bản hội chẩn liên khoa kết luận: Chấn thương sọ não do tai nạn giao thông. Tiên lượng nặng, nguy cơ tử vong gần, giải thích rõ tình trạng bệnh cho gia đình.
    • - Phiếu kết quả cắt lớp vi tính 16 dãy: Tụ máu dưới màng cứng bán cầu hai bên: bên phải dày 16mm, bên trái dày 6mm. Các ổ đụng dập-tụ máu thùy trán thái dương phải, ổ lớn đường kính 50mm, phù não xung quanh. Chảy máu dưới nhện trong các rãnh cuộn não bán cầu hai bên, các bể não. Giảm phân biệt chất trắng chất xám hai bán cầu, xóa các bể đáy nghĩ đến phù não. Đường giữa lệch trái 9mm. Hệ thống não thất mất cân đối, gián não thất bên trái, xẹp não thất bên phải. Tụ máu trong não thất. Vỡ phức tạp xương đỉnh chẩm trái kèm tụ máu dưới da đầu. Kết luận: Hình ảnh chấn thương sọ não nặng như mô tả.
  2. 2. Kết luận:
    • - Nguyên nhân chết do chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, chảy máu, tụ máu nội sọ do tai nạn giao thông.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trưng cầu giám định xác định cơ chế hình thành dấu vết vụ tai nạn giao thông.

Bản kết luận giám định số 2480/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Dấu vết trượt xước cao su, kim loại, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), hướng từ mặt vào tâm trục, ngược chiều chuyển động tiến ở bên phải má lốp và vành bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98L2-5517 (ảnh số 7, 8, 9 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, trượt xước sơn kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), hướng từ sau ra trước, từ trái qua phải ở mặt ngoài thanh kim loại bên trái khung và cụm chi tiết cố định cần bàn đạp bên trái của xe đạp màu sơn xanh (ảnh số 9, 10 bản ảnh khám phương tiện).
  2. Dấu vết trượt xước cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng bột đá) ở bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98L2-5517 gồm: chân phanh, để chân trước, giá thồ hàng, ống xả (từ ảnh số 10 đến ảnh số 15 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với vật tày cứng có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình sau va chạm, xe mô tô biển kiểm soát 98L2 - 5517 đổ nghiêng phải, rẽ trượt trên mặt đường, tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 4.
  3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98L2-5517 và xe đạp trên mặt đường, tại trước điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 3 và số 4 thuộc phần đường bên phải theo hướng đường V đi đường gom cao tốc Hà Nội-Bắc Giang.
  4. Chiều hướng va chạm: xác định tại thời điểm xảy ra va chạm xe mô tô biển kiểm soát 98L2-5517 chuyển động thẳng theo hướng đường V đi đường gom cao tốc Hà Nội-Bắc Giang va chạm với xe đạp màu sơn xanh ở phía trước cùng chiều (đầu xe đạp chếch hướng sang bên trái theo hướng chuyển động của xe mô tô).
  5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.

Cơ quan điều tra đã thu giữ và trưng cầu giám định đoạn video được trích xuất tại cammera an ninh trước cửa nhà chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, trú tại thôn C, xã Đ, thành phố B.

Bản kết luận giám định số 2315/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

  1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “4854171099277.mp4"; dung lượng: 2,83 MB; thời lượng: 00 phút 37 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R nhãn hiệu Maxell màu cam gửi giám định.
  2. Trích xuất được 16 (mười sáu) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra đã cho bị cáo N quan sát đoạn video đã thu giữ. Kết quả N xác định có hình ảnh N điều khiển xe mô tô va chạm với xe đạp do ông P điều khiển gây ra vụ tai nạn.

Kết quả xác minh tại Sở giao thông vận tải tỉnh B xác định Trịnh Thị N có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 02/6/2016.

Tại bản cáo trạng số 64/CT - VKS ngày 14/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trịnh Thị N ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang để xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Trịnh Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 130.000.000 đồng. Đối với chiếc xe mô tô biểm kiểm soát 98L2-5517 bị cáo đề nghị được xin lại. Ngoài ra, bị cáo có bố chồng là ông Khổng Văn M1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo đã giao nộp tài liệu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Bị cáo có bố đẻ cũng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nhưng tại phiên toà hôm nay bị cáo không có tài liệu để cung cấp cho Hội đồng xét xử.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khổng Văn M xác định sự việc tai nạn giao thông xảy ra như thế nào ông không nắm được. Đối với số tiền bồi thường 130.000.000 đồng cho gia đình ông P là tài sản chung của ông và bị cáo N nhưng ông đồng ý để bị cáo N bồi thường cho gia đình ông P, ông không có ý kiến gì về số tiền đã bồi thường.

Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt được Hội đồng xét xử công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Trịnh Thị N từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo N cho UBND xã Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trịnh Thị N cùng gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Ngọc P số tiền 130.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của ông P không yêu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự không xem xét trong vụ án này.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Trả lại cho bị cáo N 01 xe mô tô, nhãn hiệu Angel, màu sơn vàng, gắn biển kiểm soát 98L2-5517 và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] nhưng được giữ lại xe mô tô để đảm bảo công tác thi hành án.
  • Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử do họ đã có lời khai trong hồ sơ. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp cho bị hại là có căn cứ.

[3] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trịnh Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Trịnh Thị N có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Khoảng 10 giờ ngày 23/10/2023, N điều khiển xe mô tô BKS 98L2-5517 đi trên đường T theo hướng từ đường V đến đường G-Bắc Giang thuộc địa phận xã Đ, thành phố B. Khi đến khu vực ngã 3 giao nhau giữa đường T với đường đi trường THCS xã Đ do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên xe mô tô do N điều khiển đã đâm vào xe đạp do ông Nguyễn Ngọc P điều khiển đi cùng chiều phía trước đang chuyển hướng rẽ trái. Hậu quả làm ông P bị ngã xuống đường và bị chấn thương sọ não được đưa đi cấp cứu sau đó chết. Hành vi của N vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31 ngày 29/08/2019 của Bộ G.

Đối với ông Nguyễn Ngọc P có lỗi khi chuyển hướng rẽ trái nhưng không làm tín hiệu báo hướng rẽ, không đảm bảo an toàn đã vi phạm khoản 1 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

[4] Như vậy, hành vi của bị cáo Trịnh Thị N đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo tham gia giao thông điều khiển xe mô tô nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên đã xảy ra va chạm với ông Nguyễn Ngọc P, hậu quả làm ông P chết. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa bị đưa ra xét xử hình sự lần nào.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Ngoài ra, bị cáo còn được đại diện gia đình bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt, có bố chồng là ông Khổng Văn M1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng 3. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

[9] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Trịnh Thị N là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại là ông Nguyễn Ngọc P. Do vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.

Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trịnh Thị N và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Ngọc P số tiền 130.000.000 đồng. Đến nay đại diện hợp pháp của ông P không yêu bị cáo bồi thường gì thêm nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[11] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo N 01 xe mô tô, nhãn hiệu Angel, màu sơn vàng, gắn biển kiểm soát 98L2-5517 và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] là tài sản của bị cáo nhưng được giữ lại xe mô tô để đảm bảo công tác thi hành án.

[12] Ngoài ra cần áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trịnh Thị N 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/4/2024).

Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố B giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo N 01 xe mô tô, nhãn hiệu Angel, màu sơn vàng, gắn biển kiểm soát 98L2-5517 và 01 giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số [...] nhưng được giữ lại xe mô tô để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

4.Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (1 b);
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang.
  • - VKSND thành phố Bắc Giang (2b);
  • - THADS thành phố Bắc Giang (4b);
  • - Lưu HS.VP (1 b);
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại,
  • người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lương Thị Thanh Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger