|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-7-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Chung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Minh Lý
2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Cao Minh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2024/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Bích H, sinh năm 1982; địa chỉ: Số A đường Lê Hồng P, tổ B, khu C, phường Phú T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt
- Bị đơn: Ông Trần Hoài D, sinh năm 1991; địa chỉ: Số Số A đường Lê Hồng P, tổ B, khu C, phường Phú T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024 và quá trình giải quyết, bà Đặng Thị Bích H là nguyên đơn trình bày: Bà H và ông Trần Hoài D tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phú T ngày 11/11/2014. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2021 thì bà H và ông D bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai bất đồng quan điểm sống về cách sinh hoạt gia đình, vấn đề kinh tế, nuôi dạy con cái, vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc. Nay bà H nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể nào tiếp tục sống chung với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Trần Hoài D. Về con chung, bà H và ông D có 01 con chung tên Trần Hoài Duy K, sinh ngày 12/3/2015. Khi ly hôn, bà H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Hoài Duy K, sinh ngày 12/3/2015, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Hoài D tại nơi cư trú, lý do ông D không có mặt tại địa chỉ trên và không có ai nhận thay văn bản. Theo kết quả xác minh tại Công an phường Phú T xác định ông Trần Hoài D, sinh năm 1991 có hộ khẩu thường trú tại phường Phú T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Hiện ông D không còn sinh sống tại địa chỉ trên, thời gian ông D chuyển đi và nơi ông D chuyển đến thì địa phương không nắm được. Tòa án đã thông báo cho nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú mới của bị đơn, nhưng nguyên đơn không cung cấp được.
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố T tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với ông Trần Hoài D. Tuy nhiên, ông D không đến Tòa án tham gia tố tụng, không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không có đơn yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và cũng không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.
Quá trình giải quyết, nguyên đơn xác định vẫn giữ yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn, về con chung, về tài sản chung, nợ chung. Đồng thời, ngày 24/6/2024, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Về phía bị đơn ông Trần Hoài D vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Bích H đối với bị đơn ông Trần Hoài D về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ngày 24/6/2024, bà Đặng Thị Bích H là nguyên đơn trong vụ án có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Đối với bị đơn ông Trần Hoài D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm, nhưng ông D vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Bích H và ông Trần Hoài D tự nguyện kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Phú T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 100, quyển số 01/2014 ngày 11/11/2014 của Ủy ban nhân dân phường Phú T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, giữa bà Đặng Thị Bích H và ông Trần Hoài D đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên xảy ra bất hòa, cãi nhau, hôn nhân không có hạnh phúc. Nay bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn giữa bà H và ông D đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Vì vậy, bà H vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông D. Về phía bị đơn ông Trần Hoài D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt không có lý do, đã thể hiện ông D không có thiện chí trong việc muốn hàn gắn và bảo vệ hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông D đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Đặng Thị Bích H đối với ông Trần Hoài D là có cơ sở để chấp nhận, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông D có 01 con chung là cháu Trần Hoài Duy K, sinh ngày 12/3/2015. Hiện nay, cháu K đang sống ổn định với bà H nên bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, bà H có công việc ổn định, thu nhập hàng tháng đảm bảo đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Quá trình giải quyết, cháu Khánh trình bày hiện cháu K đang sống với bà H, do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu K có nguyện vọng được sống với mẹ ruột tên Đặng Thị Bích H trường hợp cha mẹ ly hôn. Do vậy, việc giao cháu Trần Hoài Duy K cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc là chính đáng, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về vấn đề cấp dưỡng con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 180, 227, 228, 235, 238, 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Bích H đối với bị đơn ông Trần Hoài D về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Bích H được ly hôn với ông Trần Hoài D.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Hoài Duy K, sinh ngày 12/3/2015 cho bà Đặng Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.
- Về vấn đề cấp dưỡng con chung: Do các đương sự không yêu cầu tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Sau khi ly hôn, ông Trần Hoài D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp ông Trần Hoài D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà Đặng Thị Bích H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông Trần Hoài D.
- Vì quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con khi xét thấy cần thiết.
- - Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Đặng Thị Bích H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số BLTU/24 - 0002408 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.
- Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ngọc Chung |
4
Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đặng Thị Bích H với ông Trần Hoài D ly hôn
