Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 77/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21-8-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp

nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Lê Thị Phương Anh
  • 2. Ông Đỗ Văn Hòa

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 473/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 559/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Duyên A, sinh năm 1983
  • Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
  • - Bị đơn: ông Đỗ Huy N, sinh năm 1975
  • Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2024, và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Duyên A trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Đỗ Huy N tự nguyện tìm hiểu, sống chung và đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, thành phố Hà Nội. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân được 03 năm. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Đỗ Huy N.

- Về con chung: Bà và ông N có hai con chung tên Đỗ Nguyễn Gia H, sinh ngày 08/3/2009 và Đỗ Nguyễn Hiểu T, sinh ngày 01/10/2012. Bà yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ, đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Đỗ Huy N nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải, nên không thể tiến hành hòa giải vụ án. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Duyên A, xét xử cho bà Nguyễn Thị Duyên A được ly hôn ông Đỗ Huy N và giao hai con chung cho bà A nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Duyên A yêu cầu được ly hôn ông Đỗ Huy N và yêu cầu giải quyết về con chung, nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”; bị đơn có địa chỉ tại khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn tại phiên tòa: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy:

Bà Nguyễn Thị Duyên A và ông Đỗ Huy N chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 117, đăng ký ngày 28 tháng 5 năm 2008. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Theo bà A trình bày, vợ chồng ông, bà trong thời gian chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Dù đã cố gắng nhưng vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện nay bà A và ông N đã sống ly thân, không ai quan tâm tới ai. Tòa án đã triệu tập ông N đến Tòa nhằm hòa giải, động viên để vợ chồng đoàn tụ nhưng ông N không đến Tòa cũng như không có bất kỳ văn bản nào thể hiện quan điểm của mình, cho thấy ông N không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Nguyễn Thị Duyên A yêu cầu ly hôn ông Đỗ Huy N là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Duyên A khai bà và ông Đỗ Huy N có hai con chung tên Đỗ Nguyễn Gia H, sinh ngày 08/3/2009 và Đỗ Nguyễn Hiểu T, sinh ngày 01/10/2012. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đỗ Huy N không có bất kỳ văn bản nào thể hiện ông có nguyện vọng nuôi con hay không.

Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, để con phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/7/2024, các cháu Đỗ Nguyễn Gia H và Đỗ Nguyễn Hiểu T khai đang ở với bà A và có thể hiện nguyện vọng được tiếp tục ở với bà A, nên giao các cháu cho bà A nuôi dưỡng là hợp lý. Do đó, chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con chung của bà Nguyễn Thị Duyên A, bà A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà Nguyễn Thị Duyên A chưa yêu cầu ông Đỗ Huy N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.2] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Duyên A và ông Đỗ Huy N chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Duyên A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

luật.

[4] Về kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Duyên A về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Duyên A được ly hôn ông Đỗ Huy N.

- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Duyên A được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Đỗ Nguyễn Gia H, sinh ngày 08/3/2009 và Đỗ Nguyễn Hiểu T, sinh ngày 01/10/2012. Ông Đỗ Huy N có nghĩa vụ giao hai con chung cho bà Nguyễn Thị Duyên A nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Duyên A chưa yêu cầu ông Đỗ Huy N cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà A, ông N có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung.

Bà A không được ngăn cản ông N trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục các con chung.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Duyên A chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 15 tháng 5 năm 2024, bà A đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001698 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết, nay chuyển 300.000 đồng sang án phí và sung công quỹ nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/8/2024). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - Chi cục THADS thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Lê Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 77/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger