|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
|
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 21/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàm Thu Ánh
- Ông Lâm Viên Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Ngon - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án hình sự, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSST-QĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng V; sinh ngày 14/7/2001, tại Quảng Nam; nơi cư trú: 546/16/16 N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H và bà Nguyễn Thị L; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/4/2024; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hoài L1, sinh năm 2002; địa chỉ: B D, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1979; địa chỉ: 5 N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bà Phạm Thị Ngọc T1 và đối tượng Nguyễn Hoàng V là người yêu của nhau. Vào khoảng 11 giờ ngày 21/10/2023, sau khi dự lễ tốt nghiệp của bạn gái là bà Phạm Thị Ngọc T1, đối tượng Nguyễn Hoàng V chở bà Nguyễn Thị T (là mẹ của bà T1) về phòng trọ tại lầu 3 nhà số B đường D, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (tại địa chỉ trên, dưới tầng trệt là quán nước giải khát). Lúc này ở phòng trọ có đối tượng V, bà T và 2 em của bà T1 là bà Nguyễn Thị Thanh V1 và ông Phạm Văn P. Tại phòng trọ, đối tượng V nhìn thấy bà T làm rơi số trang sức để trong hộp nữ trang cất trong túi xách để gần cửa, đối tượng V nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài. Khi thấy ông P đi ra hành lang, bà V1 và bà T không để ý đến tài sản, đối tượng V đã lén lút lấy hộp nữ trang bỏ vào túi quần bên trái, rồi nói với bà V1 là đi mua muối. Sau đó, đối tượng V lấy xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 59G1-523.61 chạy đến gần chợ T2, Quận E, đối tượng V dừng lại lấy hộp nữ trang ra kiểm tra, bên trong bao gồm 01 (một) chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng, 01 (một) chiếc lắc bằng hợp kim vàng, 01 (một) sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng. Đối tượng Vũ cất số nữ trang trên vào túi quần phải, vứt hộp nữ trang đi và chạy xe quay lại phòng trọ của bà T1. Sau khi trở về phòng trọ, đối tượng V vào nhà vệ sinh của quán nước ở tầng trệt, cất giấu số trang sức lấy trộm vào bồn chứa nước bồn cầu và ra trước quán ngồi uống cà phê. Lúc này tại phòng trọ, bà T phát hiện hộp nữ trang bị mất nên cùng mọi người tìm kiếm. Bà T1 và bạn khi về phòng trọ thì biết được sự việc trên. Sau khi vụ việc mất trộm tài sản xảy ra, bà T1 có hỏi nhân viên bán quán cà phê ở dưới nhà thì được biết đối tượng V có ra vào nhà vệ sinh của quán. Sau đó, bà T1 và ông Nguyễn Hoài L1 (là nhân viên của quán nước) vào nhà vệ sinh kiểm tra, mở nắp bồn chứa nước ra thì phát hiện số trang sức bị mất trộm trên. Bà T1 đã đến Công an P1, Quận A trình báo sự việc.
Theo Chứng thư giám định số 00700/N1.23/TD ngày 19/12/2023 của Trung tâm K chất lượng 3 và Bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 11/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận A kết luận:
- 01 (một) chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng, khối lượng 4.2889g, vàng 23K, có giá trị: 6.367.000 đồng.
- 01 (một) chiếc lắc bằng hợp kim vàng, khối lượng 11,3719g, vàng 23K, có giá trị: 16.902.500 đồng.
- 01 (một) sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng có mặt dây, khối lượng 16.5368g, vàng 14K, có giá trị: 14.081.500 đông.
Tổng cộng: 37.351.000 đồng (Ba mươi bảy triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị can Nguyễn Hoàng V khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như trên, lời khai của bị can V phù hợp với chứng cứ thu thập được, lời khai của bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Vật chứng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý:
- - Một xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, mang biển số 59G1-523.61 thuộc quyền sở hữu là bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của bị can Nguyễn Hoàng V). Ngày 21/10/2023, bị can Nguyễn Hoàng V điều khiển xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 59G1-523.61 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bà L không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành trả lại phương tiện xe mô tô Honda AirBlade biển số 59G1-523.61 trên cho bà L.
- - Một chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng, khối lượng 4.2889g; một chiếc lắc bằng hợp kim vàng, khối lượng 11,3719g; một sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng có mặt dây, khối lượng 16.5368g, là tài sản của bà Nguyễn Thị T bị bị can Nguyễn Hoàng V trộm cắp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành trả lại tài sản bị mất trộm cho bị hại là bà Nguyễn Thị T.
- - Một chiếc hộp dùng để đựng số trang sức là tài sản của bà Nguyễn Thị T bị Nguyễn Hoàng V trộm cắp. Bị can Nguyễn Hoàng V không nhớ rõ đã bỏ chiếc hộp ở địa điểm nào nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q không thu hồi được.
- - Lưu vào hồ sơ vụ án: Một đĩa DVD nội dung lời khai ghi âm ghi hình của bị can Nguyễn Hoàng V; một USB nội dung camera liên quan đến việc trộm cắp.
Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại là bà Nguyễn Thị T đã nhận lại toàn bộ số tài sản bị mất trộm gồm một chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng, khối lượng 4.2889g; một chiếc lắc bằng hợp kim vàng, khối lượng 11,3719g; một sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng có mặt dây, khối lượng 16.5368g, không có khiếu nại và yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản cáo trạng số 71/CT-VKSQ11 ngày 02/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị can Nguyễn Hoàng V tội danh “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng V có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Bị hại là bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Người làm chứng là ông Nguyễn Hoài L1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L trình bày nhận thấy gia đình còn nhiều thiếu sót trong việc giáo dục, quản lý bị cáo và không có yêu cầu gì liên quan đến vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù và đề nghị xử lý vật chứng như sau: Lưu vào hồ sơ vụ án một đĩa DVD nội dung lời khai ghi âm ghi
hình của bị cáo Nguyễn Hoàng V; một USB nội dung camera liên quan đến việc trộm cắp.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào lúc 11 giờ ngày 21/10/2023, tại phòng trọ lầu C, nhà số B D, Phường D, Quận A, bị cáo Nguyễn Hoàng V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tài sản của bà Nguyễn Thị T bao gồm: một chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng, khối lượng 4.2889g, vàng 23K, có giá trị: 6.367.000 đồng; một chiếc lắc bằng hợp kim vàng, khối lượng 11,3719g, vàng 23K, có giá trị: 16.902.500 đồng; một sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng có mặt dây, khối lượng 16.5368g, vàng 14K, có giá trị: 14.081.500 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 37.351.000 đồng (ba mươi bảy triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi, lười lao động bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để trừng trị và giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung.
[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3] Về việc không xem xét phạt tiền bổ sung đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Hoàng V có nghề nghiệp làm công, thu nhập không ổn định nên không đảm bảo khả năng chấp hành án khoản nộp phạt tiền; đồng thời, bị cáo chưa thu lợi từ hành vi phạm tội; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Về xử lý vật chứng:
- - Đối với vật chứng là một xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đỏ đen, mang biển số 59G1-523.61 thuộc quyền sở hữu là bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Hoàng V). Ngày 21/10/2023, bị cáo Nguyễn Hoàng V sử dụng xe mô tô hiệu Honda AirBlade biển số 59G1-523.61 để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bà L không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành trả lại phương tiện xe mô tô Honda AirBlade biển số 59G1-523.61 trên cho bà L. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
- - Đối với các vật chứng gồm: Một chiếc nhẫn bằng hợp kim vàng, khối lượng 4.2889g; một chiếc lắc bằng hợp kim vàng, khối lượng 11,3719g; một sợi dây chuyền bằng hợp kim vàng có mặt dây, khối lượng 16.5368g, là tài sản của bà Nguyễn Thị T bị bị cáo Nguyễn Hoàng V chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã tiến hành trả lại cho bị hại là bà Nguyễn Thị T. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã xử lý vật chứng đúng quy định của pháp luật nên không giải quyết lại.
- - Đối với vật chứng gồm: Một đĩa DVD nội dung lời khai ghi âm ghi hình của bị cáo Nguyễn Hoàng V và một USB nội dung camera liên quan đến việc trộm cắp do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q lập và lưu vào hồ sơ vụ án. Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy Cơ quan Cảnh sát điều tra Cbà Thương Quận 11 xử lý lưu vào hồ sơ vụ án là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại - bà Nguyễn Thị T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V, điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 được phân công điều tra, kiểm sát giải quyết vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, có cơ sở để xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về án phí:
Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.
Căn cứ khoản 2 Điều 107 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đưa vào hồ sơ vụ án vật chứng là một đĩa DVD nội dung lời khai ghi âm ghi hình của bị cáo và một USB nội dung camera liên quan đến việc trộm cắp.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
6
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
