Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82/2024/DS-ST

Ngày 21-6-2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Hồ Lệ Hoa
  • Ông Nguyễn Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30 tháng 5 và 21 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 387/2023/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh N; Sinh năm: 1990;

Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Minh Ú - Sinh năm: 1962 (Có mặt);

Địa chỉ: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K (Tên gọi khác: K1) – sinh năm 1981(Có mặt);

Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Đoàn Văn H (Vắng mặt);

Địa chỉ: Khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

2/ Chị Liêu Diệu H1 (Xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

3/ Chị Nguyễn Thị Ngọc H2 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/12/2023 và quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Minh N trình bày:

Ngày 01/6/2020 âm lịch tôi có cho anh K vay số tiền 15.000.000 đồng để làm vốn thu mua tôm cua, thỏa thuận lãi 300.000 đồng/tháng, khoản vay không kỳ hạn và anh K đã đóng lãi đầy đủ.

Ngày 29/3/2022 âm lịch tôi có cho anh K mượn số tiền 75.000.000 đồng để làm vốn cân tôm cua, thời hạn trả là 01 tháng, nhưng đến nay anh K vẫn chưa trả.

Các lần tôi đưa tiền cho anh K thì có làm 2 biên nhận có chữ ký thừa nhận của anh K nhưng tôi nhiều lần đòi nợ thì anh K hứa hẹn mà không trả.

Nay tôi yêu cầu anh K trả cho tôi số tiền vốn 90.000.000 đồng và tiền lãi của số tiền 75.000.000 đồng từ ngày 29/3/2022 âm lịch, tức ngày 29/5/2022 đến ngày hôm nay 27/12/2023 là 17 tháng 28 ngày, tính tròn 17 tháng bằng số tiền 21.165.000 đồng. Tổng số tiền là 111.165.000 đồng.

Ông Lê Minh Ú thống nhất với lời trình bày của anh N và không bổ sung gì thêm.

Bị đơn anh Nguyễn Quốc K trình bày:

Tôi thừa nhận trước đây có vay và mượn anh N với số tiền và quá trình vay như anh N trình bày là đúng. Đối với các chữ ký tại các biên nhận ngày 01/6/2020 âm lịch và biên nhận ngày 29/3/2022 âm lịch là của tôi (K) nhận nợ đúng với số tiền như các tờ biên nhận đã thể hiện. Tổng số tiền vốn là 90.000.000 đồng, tôi đóng lãi mỗi tháng là 9.000.000 đồng, đã đóng đến ngày 09/7/2023 âm lịch, là ngày 24/8/2023 dương lịch. Khi đóng lãi không làm giấy tờ gì nhưng có bà Liêu Diệu H1, Nguyễn Quốc K, .... Là những người cùng xóm chứng kiến. Nay tôi yêu cầu tính lại số tiền lãi mà tôi đã đóng theo quy định của pháp luật để đối trừ với số tiền tôi nợ anh N vì tôi đã đóng lãi quá nhiều. Việc thỏa thuận lãi suất khi vay là do tôi tự nguyện, không ai ép buộc và tôi đã đóng lãi đầy đủ.

Đối với số tiền vốn, ngày 19/7/2023 âm lịch anh N có dẫn anh Đoàn Văn H đến gặp tôi để trừ cấn 90.000.000 đồng mà tôi đã nợ của anh N cho anh H. Sau khi ba bên gặp nhau thì anh N có điện thoại cho tôi kêu qua nhà lấy lại 2 biên nhận và xác nhận việc tôi không còn nợ anh N nữa. Khi 2 bên nói chuyện qua điện thoại thì tôi có mở loa ngoài và có anh Phan Văn K2 là người cùng xóm cùng nghe nội dung trên. Tôi yêu cầu Tòa án lấy lời khai của anh K2 để làm rõ.

Sau đó khoảng 01 tháng thì tôi có chuyển khoản trả nợ cho anh H số tiền trên, việc chuyển khoản có lưu giữ chứng từ tại Ngân hàng, anh N có hứa trả lại biên nhận nợ tôi đã ký nhưng đến nay vẫn chưa trả.

Nay trước yêu cầu khởi kiện của anh N tôi không đồng ý trả do số tiền vốn 90.000.000 đồng tôi và anh N với anh H đã cấn trừ và tôi đã trả cho anh H xong. Ngoài ra, tôi yêu cầu tính lại số tiền lãi trước đây đã đóng cho anh N để đối trừ số tiền tôi phải trả cho anh N.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án và triệu tập để xét xử đến lần thứ 2 đối với anh H nhưng anh H không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án về việc giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên tòa không lý do.

Tại phiên tòa:

Các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới cho Tòa án.

Anh N và ông Ú yêu cầu anh K trả cho anh N số tiền vốn vay theo các biên nhận nợ đã ký tổng số tiền 90.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi của số tiền 75.000.000 đồng từ ngày 30/5/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 30/5/2024 đồng là 24 tháng (tính tròn) theo lãi suất 20%/năm bằng số tiền 30.000.000 đồng. Tổng hai khoản là 120.000.000 đồng.

Anh K không đồng ý trả cho anh N số tiền trên vì anh đã đóng lãi quá nhiều đến nay đã không còn khả năng trả, yêu cầu tính lại số tiền lãi đã đóng để đối trừ vào số tiền đã nợ anh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật; về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh N về việc yêu cầu anh Nguyễn Quốc K thanh toán nợ vay. Buộc anh Nguyễn Quốc K có nghĩa vụ thanh toán cho anh Nguyễn Minh N số tiền vốn 90.000.000 đồng và lãi phát sinh của số tiền 75.000.000 đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 24 tháng, tổng số tiền là 96.000.000 đồng. Trong đó: nợ vốn số tiền 90.000.000 đồng, nợ lãi là 6.000.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu, có dự nộp tạm ứng án phí được nhận lại; Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Nguyễn Minh N khởi kiện yêu cầu anh Nguyễn Quốc K trả số tiền nợ vay. Đây là tranh chấp dân sự về tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Anh K có nơi cư trú tại ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    Đối với anh Đoàn Văn H, chị Liêu Diệu H1 và chị Nguyễn Thị Ngọc H2 đã được Tòa án triệu hợp lệ để xét xử đến lần thứ 2 nhưng chị H1 và chị H2 có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sư kể trên theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. Về nội dung tranh chấp:

    Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Giao dịch vay tiền giữa anh Nguyễn Minh N với anh Nguyễn Quốc K là thực tế có xảy ra, thể hiện qua các biên nhận mà hai bên đã ký kết được bị đơn thừa nhận về nội dung biên nhận và chữ ký trong biên nhận. Tuy nhiên đến hạn mà anh K không thanh toán nợ đã vay, vì vậy anh K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho anh N.

    Đối với số tiền vốn, theo anh K số tiền 15.000.000 đồng theo biên nhận ngày là tiền lãi của số tiền 75.000.000 đồng do anh N ép buộc anh ký tên vào biên nhận thành nợ gốc nhưng anh K không chứng minh được việc anh bị ép buộc nên không có cơ sở để xác định đây là nợ lãi như anh K trình bày nên xác định nợ vốn của anh K là 90.000.000 đồng theo biên nhận mà anh K đã ký xác nhận. Theo anh K thì ngày 19/7/2023 (âm lịch) anh N có dẫn anh H đến để trừ cấn 90.000.000 đồng mà anh K đã nợ của anh N cho anh H, do anh N có nợ anh H trước đó. Sau khi 3 bên gặp nhau trao đổi thì sau đó khoảng 01 tháng anh K đã trả hết 90.000.000 đồng cho anh H (trong đó chuyển khoản số tiền 30.000.000 đồng và trả tiền mặt 60.000.000 đồng), việc chuyển khoản có lưu giữ chứng từ tại Ngân hàng, anh N có hứa trả lại biên nhận nợ nhưng đến nay vẫn chưa trả còn anh K cũng không yêu cầu đòi lại các biên nhận này. Xét thấy giữa anh N và anh K xác lập việc vay tiền bằng các biên nhận được các bên thừa nhận, anh K không chứng minh được có việc cấn trừ nghĩa vụ giữa anh N và anh K với anh H và anh N xác định chỉ kiện đòi anh K mà không yêu cầu gì đối với anh H nên cần buộc anh K có nghĩa vụ trả nợ cho anh N là có cơ sở.

    Đối với số tiền lãi, theo anh K thì anh phải đóng cho anh N theo lãi suất 10%/tháng, mỗi tháng đóng 9.000.000 đồng, anh K đã đóng đến ngày 09/7/2023 âm lịch (là ngày 24/8/2023 dương lịch). Khi đóng lãi không làm giấy tờ gì nhưng có những người cùng xóm chứng kiến. Nay anh K yêu cầu tính lại số tiền lãi mà anh đã đóng theo quy định của pháp luật để đối trừ với số tiền nợ anh N. Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất khi vay là do các bên tự nguyện và anh K không chứng minh được đã đóng lãi cho anh N theo lãi suất 10%/tháng nên không có cơ sở để xem xét.

  3. Đối với đơn xác nhận ngày 20/02/2024 của anh Nguyễn Vũ A xác nhận có chứng kiến việc ông K có đưa ông N 3 lần, hai lần trước không nhớ ngày tháng nào, lần 3 là vào ngày 04/3/2023 âm lịch, mỗi lần 9.000.000 đồng. Xét các chứng cứ mà bị đơn cung cấp không phải là chứng cứ trực tiếp chứng minh việc đóng lãi giữa các bên, không có ký tên xác nhận, không thể hiện rõ nội dung cơ bản thông thường của việc đóng lãi như người đóng lãi, người nhận tiền đóng lãi, số tiền vốn, lãi suất, số tiền đóng lãi, ngày đóng lãi, đóng lãi trong thời gian nào,.... Bên cạnh đó, anh N không thừa nhận có việc giao nhận tiền đóng lãi mà anh K đã đưa ra và anh K không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ chấp nhận đây là những chứng cứ chứng minh cho việc đóng lãi của anh K đối với anh N. Vì vậy, không có cơ sở để đối trừ số tiền lãi theo yêu cầu của anh K.
  4. Đối với yêu cầu tính lãi số tiền nợ vay từ ngày 29/5/2022 (nhằm ngày 29/3/2022 âm lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm 21/6/2024, tính tròn 24 tháng theo mức lãi suất 20%/năm của anh N, do anh K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên cần buộc anh K có nghĩa vụ trả lãi theo yêu cầu của anh N. Do hợp đồng các bên khi xác lập không thỏa thuận lãi suất và có tranh chấp với nhau về lãi suất nên áp dụng mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 làm cơ sở xem xét. Như vậy số tiền lãi của số tiền nợ vay 75.000.000 đồng x 24 tháng tròn x 10%/năm bằng số tiền 15.000.000 đồng.

    Xét hai lần anh K chuyển khoản vào tài khoản của anh N (thông qua tài khoản của chị H1) số tiền 9.000.000 đồng được anh N thừa nhận, nhưng theo anh N là do chị H1 chuyển nhờ vào tài khoản của anh N chuyển cho ông Nguyễn Thế P.

    Tại xác nhận ngày 13/6/2024 của ông P xác nhận vào năm 2023 vợ chồng anh K có chuyển khoản cho ông P hai lần bằng số tiền 9.000.000 đồng thông qua anh N, nhưng không nhớ chính xác thời gian. Tuy nhiên, qua làm việc chị H1 không thừa nhận có việc chuyển tiền cho anh P thông qua anh N và xác định đây là tiền vợ chồng chị H1 và anh K đóng lãi cho anh N. Xét thấy, anh P và chị H1 có giao dịch chuyển khoản với nhau nhiều lần nên việc chuyển nhờ vào tài khoản của anh N là không hợp lý, bên cạnh đó anh P cũng không nhớ chính xác mốc thời gian. Do đó có cơ sở xác định số tiền này là tiền đóng lãi trực tiếp từ chị H1 và anh K cho anh N. Do đó, cần đối trừ vào số tiền anh K còn nợ anh N. Như vậy, đối trừ số tiền 9.000.000 đồng nên anh K có nghĩa vụ trả cho anh N số tiền 96.000.000 đồng. Do đây là nợ chung của vợ chồng nên cần buộc chị H1 cùng có nghĩa vụ liên đới với anh K trả cho anh N là phù hợp.

  5. Kể từ ngày anh Nguyễn Minh N có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp anh Nguyễn Quốc K, chị Liêu Diệu H1 chậm thanh toán số tiền nêu trên thì hàng tháng anh K, chị H1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  6. Đối với anh Đoàn Văn H, theo anh N xác định không thực hiện giao dịch với anh H và không có yêu cầu gì với anh H, nên xác định đây là giao dịch riêng giữa anh K, chị H1 với anh H và không xem xét trong vụ án này. Trường hợp anh K, chị H1 có yêu cầu sẽ được giải quyết trong vụ án khác.
  7. Về án phí dân sự có giá ngạch: Anh Nguyễn Minh N không phải chịu án phí, có dự nộp được nhận lại. Anh K phải chịu án phí có giá ngạch theo quy định.
  8. Đương sự có quyền kháng cáo bản án, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
  9. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468của Bộ luật dân sự, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh N về việc yêu cầu anh Nguyễn Quốc K thanh toán nợ vay.

    Buộc anh Nguyễn Quốc K và chị Liêu Diệu H1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho anh Nguyễn Minh N số tiền vốn và lãi phát sinh tính đến ngày 30/5/2024 số tiền là 96.000.000 đồng. Trong đó: nợ vốn số tiền 90.000.000 đồng, nợ lãi là 6.000.000 đồng.

  2. Kể từ ngày anh Nguyễn Minh N có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp anh Nguyễn Quốc K chậm thanh toán số tiền nêu trên, thì hàng tháng anh K còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
  3. Về án phí dân sự có giá ngạch: anh Nguyễn Quốc K và chị Liêu Diệu H1 phải chịu số tiền 4.800.000 đồng (chưa nộp).
  4. Anh Nguyễn Minh N không phải chịu án phí. Ngày 07/12/2023, anh N đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 2.250.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015847 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được nhận lại.
  5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Huỳnh Phạm Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82/2024/DS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 82/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vay tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger