Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2024/HS-ST

Ngày 21/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Mỹ Hằng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Việt Hà
  • 2. Ông Tòng Văn Đại
  • - Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên

Ngày 21/5/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2024/TLST-HS, ngày 21/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024 đối với các bị cáo:

1/ Mùa A S - Sinh ngày: 13/4/1990; Tại: huyện M, tỉnh Y; Nơi ĐKHKTT: bản Tr, xã H, huyện M, tỉnh Y; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mùa A S1, sinh năm: 1972 và bà: Giàng Thị L, sinh năm: 1963; bị cáo có vợ: Vừ Thị P – Sinh năm: 1989 và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án: Không.

Về nhân thân: tại bản án số 26/HSST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên xử phạt Mùa A S 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hiện đã được xóa án tích;

Tiền sự: bị cáo có 01 tiền sự: ngày 10/11/2020, Mùa A S bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Y ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo chấp hành xong ngày 09/12/2022, tính đến lần phạm tội này (ngày 04/01/2024), bị cáo chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 18 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tạm giam từ ngày 13/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên.

2/ Mùa Thị M- Sinh ngày: 21/10/1964; Tại: huyện M, tỉnh Y; Nơi ĐKHKTT: bản Tr, xã H, huyện M, tỉnh Y; Giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Mùa A Th và bà: Giàng Thị D (Đều đã chết); bị cáo có chồng: Cứ A N – Sinh năm: 1952 (đã chết) và 05 con, con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án: Không.

Tiền sự: bị cáo có 01 tiền sự: ngày 10/6/2022, Mùa Thị M bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Y ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 17/8/2023, Mùa Thị M chấp hành xong, tính đến thời điểm phạm tội này (ngày 04/01/2024), bị cáo chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ 18 giờ 30 phút ngày 04/01/2024, tạm giam từ ngày 13/01/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Than Uyên.

Người phiên dịch cho bị cáo là chị Vàng Thị Da, sinh năm: 2005; địa chỉ: bản Huổi Hằm, xã Mường Cang, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/01/2024, Mùa A S cùng Mùa Thị M đi làm thuê tại thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, mỗi người được 500.000 đồng tiền công, S là người cất giữ tổng số tiền 1.000.000 đồng của cả 02 người. Khoảng 15 giờ ngày 04/01/2024, Mùa A S điều khiển xe mô tô chở Mùa Thị M đi từ thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai để về nhà tại bản Tr, xã H, huyện M, tỉnh Y. Trên đường về, khi đến địa phận bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu thì S dừng xe mô tô rủ M dùng tiền công cả hai người vừa đi làm thuê được mua Heroine sử dụng, M đồng ý. S dừng xe lại ở ven đường bảo M đứng đợi, còn S đi vào trong bản Noong Thăng tìm mua Heroine. S đi được một đoạn thì gặp một người đàn ông không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, S hỏi mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine và 01 viên nén màu hồng (thường gọi là Hồng phiến), với số tiền 350.000 đồng. Sau đó, S mang số ma túy quay lại chỗ M đang đợi. Tại đây, S và M cấu lấy một ít Heroine và bẻ một nửa viên Hồng phiến cho vào giấy bạc rồi cùng nhau sử dụng bằng hình thức hít.

Sau khi sử dụng ma túy, S chia số Heroine còn lại thành 02 gói nhỏ (01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu hồng và 01 gói được gói bằng mảnh ni lon màu xanh); còn một ít Heroine, S gói chung cùng một nửa viên Methamphetamine được gói bằng mảnh ni lon màu xanh. Mùa A S gói 03 gói lại thành 01 gói bằng mảnh ni lon màu hồng cất giấu trong chiếc tất đeo ở chân trái rồi điều khiển xe mô tô chở M mang ma túy về, mục đích để chia nhau sử dụng. Đến hồi 16 giờ 40 phút cùng ngày, khi Mùa A S và Mùa Thị M về đến khu 10, thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an thị trấn Than Uyên phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ bên trong chiếc tất Mùa A S đang đeo bên chân trái 02 gói Heroine và 01 gói Methamphetamine cùng một ít Heroine. Tạm giữ của Mùa A S 01 xe mô tô, nhãn hiệu ESPERO (không gắn biển kiểm soát), 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Mùa A S.

Tại bản kết luận giám định số 39/KLGĐ, ngày 04/01/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Bản kết luận giám định số 142/KL-KTHS ngày 08/01/2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Mùa A S, Mùa Thị M có tổng khối lượng 0,46 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin); Số chất bột màu hồng thu giữ của Mùa A S, Mùa Thị M có khối lượng 0,08 gam; là ma túy, loại: Methamphetamine.

Vật chứng còn lại của vụ án: 0,34 gam Heroine; 03 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh ni lon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO (không gắn biển kiểm soát); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Mùa A S. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

Bản cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 21/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố các bị cáo Mùa A S và Mùa Thị M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Mùa A S và Mùa Thị M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015.

  • Xử phạt bị cáo Mùa A S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
  • Xử phạt bị cáo Mùa Thị M từ 01 năm 08 tháng đến 02 năm 04 tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015 đối với các bị cáo.

Về vật chứng: điểm a,c khoản 1 Điều 47 – BLHS; điểm a,c khoản 2 Điều 106 – Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 0,34 gam Heroine là vật cấm tàng trữ; 03 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh ni lon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng;

01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO (không gắn biển kiểm soát); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Mùa A S là công cụ phương tiện phạm tội tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Miễn 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm cho mỗi bị cáo Mùa Thị M và Mùa A S.

Các bị cáo không bổ sung ý kiến gì thêm, nhất trí và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Than Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 04/01/2024, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, các bị cáo Mùa A S, Mùa Thị M cùng nhau góp số tiền 350.000 đồng mua của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine và 01 viên Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Đến hồi 16 giờ 40 phút cùng ngày, tại khu 10, thị trấn Than Uyên, huyện Than Uyên, Mùa A S, Mùa Thị M bị Công an huyện Than Uyên phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Mùa A S, Mùa Thị M 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,46 gam và 01 nửa viên Methamphetamine có khối lượng 0,08 gam.

Căn cứ Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, quy định về việc tính khối lượng ma túy, xác định: Mùa A S, Mùa Thị M tàng trữ tổng khối lượng ma túy là: 0,46 gam Heroine + 0,08 gam Methamphetamine = 0,54 gam.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Mùa A S, Mùa Thị M đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 – Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo Mùa A S, Mùa Thị M là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được mọi hành vi liên quan đến chất ma túy đều vi phạm pháp luật, vì nghiện chất ma túy nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần phải xử lý nghiêm minh.

Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Mùa A S là người khởi xướng và bị cáo Mùa Thị M là người giúp sức, nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Vì vậy, cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51- Bộ luật hình sự 2015.

Ý kiến luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều, khoản truy tố, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Mặc dù các bị cáo Mùa A S và Mùa Thị Vang chưa có tiền án nhưng mỗi bị cáo đều có 01 tiền sự đó là đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì nghiện chất ma túy. Bị cáo Mùa A S đã bị xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo hiện đã chấp hành xong. Các bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, vì nghiện chất ma túy nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi mà pháp luật nghiêm cấm. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo, để bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và cũng nhằm mục đích đấu tranh và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, gia đình thuộc hộ nghèo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249- Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7] Biện pháp ngăn chặn: cần áp dụng điều 329 – Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam sẽ được khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[8] Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,34 gam Heroine là vật cấm tàng trữ, 03 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh ni lon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO (không gắn biển kiểm soát); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Mùa A S là phương tiện công cụ thực hiện hành vi phạm tội do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước theo quy định.

Về nguồn gốc số Heroine bị cáo Mùa A S khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho mỗi bị cáo theo quy định tại Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phủ phê duyệt danh sách các thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2025 do các bị cáo Mùa A S và Mùa Thị M là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm a,c khoản 1 Điều 47 - Bộ luật hình sự 2015.

Căn cứ điểm a,c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên bố các bị cáo: Mùa A S và Mùa Thị M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

1. Về hình phạt:

  • Xử phạt bị cáo Mùa A S 02 (hai) năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Mùa Thị M 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của các bị cáo tính từ ngày 04/01/2024.

2. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 0,34 gam Heroine, 03 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh ni lon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu ESPERO, loại xe 120W, màu sơn đen, số khung E8PEHA103249, số máy: 152FMJ103249, không gắn biển kiểm soát, không có chìa khóa (xe đã qua sử dụng); 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 003034, tên chủ xe Mùa A S, mang biển kiểm soát: 21G1-113.90.

(Tình trạng vật chứng, tài sản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/5/2024 giữa Công an huyện Than Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên).

3. Về án phí: Các bị cáo Mùa A S và Mùa Thị M, mỗi bị cáo được miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên để xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKS huyện Than Uyên (2b);
  • - THA dân sự H. Than Uyên;
  • - CQĐT huyện Than Uyên;
  • - CQ THAHS H. Than Uyên;
  • - Nhà tạm giữ CAH. Than Uyên
  • - THA PT;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp Lai Châu;
  • - UBND xã H (để biết);
  • - Lưu HS - TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Mỹ Hằng

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tòng Văn Đại

Nguyễn Thị Việt Hà

Lương Thị Mỹ Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 77/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mùa A S và Đb phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger