TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 12 - 2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Pháp;
Ông Nguyễn Xuân Chí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Diễm Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk tham gia phiên Tòa: Bà Võ Thị Ngọc Diễm – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/8/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/12/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn G, sinh năm 1981;
Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Đắk Lắk;
- Bị đơn: Bà Phan Thị Tứ Q (Giấy Chứng nhận kết hôn ghi: Phan Thị Tứ Q1), sinh năm 1985;
Địa chỉ: Thôn L, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
(Cùng có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn G, bị đơn bà Phan Thị Tứ Q trình bày:
- Quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Văn G và bà Phan Thị Tứ Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H 1 (nay là UBND xã T) vào năm 2004. Trong quá trình chung sống có mâu thuẫn, thường cãi nhau. Nay, hai bên nhận thấy tình cảm đã thật sự không còn nên ông G, bà Q thống nhất ly hôn.
- Con chung: Có 02 con chung tên là Huỳnh Duy L, sinh ngày 07/9/2004 và Huỳnh Quốc Đ, sinh ngày 01/3/2013. Trong đó, con chung tên L đã trưởng thành nên thống nhất không yêu cầu gì.
Đối với con chung tên Đ, hai bên thống nhất giao ông G nuôi dưỡng, ông G không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung:
Bà Phan Thị Tứ Q khai tài sản chung có 10 (Mười) chỉ vàng y loại 99 do ông G đang quản lý và số tiền 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng) do ông G đứng tên tại Ngân hàng N, chi nhánh T, yêu cầu ông G chia trả ½.
Ngược lại, ông Huỳnh Văn G khai tài sản chung không có vàng nên không chấp nhận yêu cầu của bà Q. Đối với tiền gửi ngân hàng thì đúng là có số tiền như bà Q khai nhưng đây là tài sản ông G tự làm ra, không chấp nhận yêu cầu của bà Q.
Tài sản không yêu cầu giải quyết: Trước đây, bà Q, ông G có yêu cầu chia tài sản chung là nhà, đất, máy cày + rơ mooc nhưng nay không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với các tài sản này nữa, thống nhất để các bên tự thỏa thuận giải quyết.
Ngoài ra, ông G, bà Q không yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ trông chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.
- Việc giải quyết vụ án: Chấp nhận sự thuận tình ly hôn của bà Q, ông G; chấp nhận sự thỏa thuận về con chung của các đương sự. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu của bà Q về việc yêu cầu ông G chia số tiền 148.000.000 đồng; bác yêu cầu của bà Q về việc đòi chia số vàng 10 chỉ vàng y loại 99. Đối với các tài sản là nhà, đất, máy cày + rờ mooc, các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xét. Các đương sự phải án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Ông Huỳnh Văn G và bà Phan Thị Tứ Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên (Nay, là UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 20/9/2004 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, bà Q, ông G có mâu thuẫn, thường cãi nhau. Như vậy, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa ông G, bà Q đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Do đó, chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Văn G, bà Phan Thị Tứ Q.
[2] Về con chung: Có 02 con chung tên là Huỳnh Duy L, sinh ngày 07/9/2004 và Huỳnh Quốc Đ, sinh ngày 01/3/2013. Trong đó, con chung tên L đã trưởng thành, các đương sự thống nhất không yêu cầu gì nên không xét.
Đối với con chung tên Huỳnh Quốc Đ: Hai bên thống nhất giao cho ông G nuôi dưỡng; cháu Đ có nguyện vọng sống cùng ông G. Do đó, để cháu Đ phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần, chấp nhận yêu cầu của các đương sự: Giao cháu Đ cho ông G trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông G làm nghề nông, có sức khỏe, có thu nhập, đủ khả năng nuôi con và ông G không yêu cầu bà Q phải cấp dưỡng nuôi con nên không buộc bà Q phải cấp dưỡng nuôi con.
[3] Về tài sản chung:
[3.1] Đối với 10 chỉ vàng y, loại 99: Bà Q khai tài sản chung có 10 chỉ vàng y loại 99 do ông G quản lý, nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh; ông G khai không có số vàng này nên không có cơ sở cho rằng tài sản chung có số vàng như bà Q đã khai.
Do đó, bác yêu cầu của bà Q về việc đòi ông G chia 10 (Mười) chỉ vàng loại 99.
[3.2] Đối với số tiền 148.000.000 đồng: Qua xác minh, thu thập chứng cứ tại Ngân hàng N, chi nhánh T: Số tiền do ông G đứng tên tính đến ngày 18/9/2025 gồm tổng tiền gửi vào: 103.475.100 đồng; tổng tiền rút ra: 156.042.560 đồng. Tại phiên tòa, ông G thừa nhận có số tiền 148.000.000 đồng như bà Q khai nhưng cho rằng số tiền này là tiền ông tự làm ra, không chấp nhận yêu cầu của bà Q.
Xét: Ông G cho rằng đây là tiền do ông tự làm ra nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Mặt khác, số tiền này được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân nên đủ cơ sở khẳng định tài sản chung của vợ chồng ông G, bà Q có số tiền 148.000.000 đồng do ông G quản lý.
Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà Q, buộc ông G chia trả cho bà Q: 148.000.000 đồng : 2 = 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng).
[3.3] Đối với tài sản gồm nhà, đất, máy cày + rờ mooc: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bà Q, ông G thống nhất không yêu cầu giải quyết đối với các tài sản này nên không xét.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Văn G phải chịu án phí về yêu cầu xin ly hôn: 300.000 đồng; án phí về tài sản được hưởng: 74.000.000 đồng x 5% = 3.700.000 đồng; tổng cộng: 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Bà Phan Thị Tứ Q phải chịu án phí về tài sản được hưởng: 3.700.000 đồng, án phí về số tài sản bị bác yêu cầu: [(10 chỉ: 2) x 15.000.000đ/chỉ] x 5% = 3.750.000đ; tổng cộng: 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
(Vàng y, loại 99, giá 15.000.000 đồng/chỉ).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 55, 59, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Văn G và bà Phan Thị Tứ Q.
- Về con chung:
Chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự: Giao cho ông Huỳnh Văn G nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Quốc Đ, sinh ngày 01/3/2013.
Bà Phan Thị Tứ Q không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phan Thị Tứ Q:
- + Xác định tài sản chung của ông Huỳnh Văn G, bà Phan Thị Tứ Q có số tiền: 148.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi tám triệu đồng) do ông Huỳnh Văn G quản lý nên buộc ông Huỳnh Văn G chia trả cho bà Phan Thị Tứ Q số tiền: 74.000.000 đồng (Bảy mươi bốn triệu đồng).
- + Bác yêu cầu của bà Phan Thị Tứ Q về việc yêu cầu ông Huỳnh Văn G chia số vàng 10 (Mười) chỉ vàng y loại 99.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Huỳnh Văn G phải chịu: 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002309 ngày 19/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Như vậy, ông Huỳnh Văn G còn phải nộp: 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).
- + Bà Phan Thị Tứ Q phải chịu: 7.450.000 đồng (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0000379 ngày 26/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Như vậy, bà Phan Thị Tứ Q còn phải nộp số tiền: 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thanh Huệ |
Bản án số 77/2025/HNGĐ-ST ngày 30/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 77/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh G xin ly hôn chị Q
