|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 77/2025/DS-ST
Ngày: 23-5-2025
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hồ Sỹ Quý.
- Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Oanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 23/5/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 773/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-DS ngày 29/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP ) ; địa chỉ: Số A đường Q, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
- Bị đơn:
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1982; địa chỉ liên hệ: C P, phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy quyền.
Bà Phạm Thị Mai L, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954; cùng địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Đại diện nguyên đơn bà V có mặt; bị đơn bà L có mặt; bị đơn ông H cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K và bà B vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ghi ngày 16/12/2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn trình bày:
Ngày 02/11/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (B2) đã ký với bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023 với nội dung: B2 đồng ý cho bà Phạm Thị Mai L – ông Nguyễn Văn H vay với số tiền: 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng); mục đích vay: Vay bù đắp mua bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 636, tờ bản đồ số 17 và thửa đất số 635, tờ bản đồ số 57, tại cùng địa chỉ xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; thời hạn cho vay 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản vay đầu tiên đến hết ngày 03/11/2024; lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 10,05%/năm, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh theo công thức: Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam = Lãi suất cơ sở đồng Việt Nam do Ngân hàng TMCP B công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + (cộng) biên độ lãi suất là 1,8%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần với ngày hiệu lực áp dụng lãi suất điều chỉnh là ngày cuối cùng của tháng dương lịch của kỳ hạn điều chỉnh, ngày hiệu lực áp dụng lãi suất điều chỉnh đầu tiên là ngày 29/02/2024; Lãi suất cho vay quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; hàng tháng trả gốc vào ngày 15, ngày trả gốc đầu tiên là 15/12/2023; hàng tháng trả lãi vào ngày 15, ngày trả lãi đầu tiên là 15/12/2023.
Ngày 03/11/2023, B3 đã giải ngân tiền cho bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H theo Khế ước nhận nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 03/11/2023 với số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là các tài sản có thông tin như sau:
Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 834218, số vào sổ cấp GCN: CS 05659 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/09/2020 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B.
Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 128717, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01584/QĐ-UB do UBND huyện D, Tỉnh
3
Bình Dương cấp ngày 28/07/2006 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B.
Các tài sản bảo đảm trên đang được thế chấp tại B2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0000415515/2023/HĐTC-BacABank-230 ngày 02/11/2023 do Văn Phòng C1, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 02/11/2023, số công chứng: 8346, đăng ký biện pháp đảm bảo ngày 03/11/2023.
Kể từ ngày 04/11/2024, bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H đã không hoàn thành đúng nghĩa vụ đã cam kết được quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ, cụ thể: Bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi, lãi quá hạn và lãi chậm trả phát sinh từ ngày 03/11/2024. Kể từ khi bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, B3 đã nhiều lần đôn đốc, cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhưng bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H vẫn không hợp tác giải quyết khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết.
Tạm tính đến ngày 16/12/2024, bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H còn nợ BAC B3 số tiền như sau: Nợ gốc 2.862.500.000 đồng, nợ lãi 15.247.962 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả 52.281.052 đồng, tổng số tiền gốc và lãi là 2.930.029.014 đồng.
Nay, phía Ngân hàng TMCP B yêu cầu:
Buộc bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023, gồm: Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 16/12/2024 là 2.930.029.014 đồng (trong đó: nợ gốc 2.862.500.000 đồng, nợ lãi 15.247.962 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả 52.281.052 đồng). Toàn bộ các khoản lãi, phí (nếu có) phát sinh kể từ ngày 17/12/2024 cho đến ngày bà Phạm Thị Mai L, ông Nguyễn Văn H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023, Khế ước nhận nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 03/11/2023.
Trường hợp bà Phạm Thị Mai L, ông Nguyễn Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho B3, đề nghị Toà án tuyên B3 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm sau:
Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 834218, số vào sổ cấp GCN: CS 05659 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/09/2020 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Phạm Văn K – bà Nguyễn Thị B.
Bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63, địa chỉ: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 128717, Số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01584/QĐ-UB do UBND huyện D, tỉnh
4
Bình Dương cấp ngày 28/07/2006 thuộc quyền sở hữu/quyền sử dụng của ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị B.
Các tài sản bảo đảm trên đang được thế chấp tại B2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0000415515/2023/HĐTC-BacABank-230 ngày 02/11/2023 do Văn Phòng C1, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 02/11/2023, số công chứng: 8346, đăng ký biện pháp đảm bảo ngày 03/11/2023.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp:
Đơn khởi kiện ngày 16/12/2024; Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023 (Bản sao chứng thực); Khế ước nhận nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 03/11/2023 (Bản sao chứng thực); Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0000415515/2023/HĐTC-BacABank-230 ngày 02/11/2023 (Bản sao chứng thực); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 834218, Số vào sổ cấp GCN: CS 05659 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/09/2020 (Bản sao chứng thực); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 128717, Số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01584/QĐ-UB do UBND huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/07/2006 (Bản sao chứng thực); Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 02/11/2023 (STT: 6593) (Bản sao chứng thực); Phiếu yêu cầu đăng ký biện pháp bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 02/11/2023 (STT: 6594) (Bản sao chứng thực); Thông báo nợ vay phải thanh toán (Chi tiết) ngày 16/12/2024 (Bản chính); CCCD và các giấy tờ pháp lý khác của bà Phạm Thị Mai L, ông Nguyễn Văn H (Bản sao); CCCD và các giấy tờ pháp lý khác của ông Phạm Văn K, bà Nguyễn Thị B (Bản sao); hồ sơ pháp lý B2 (Bản sao chứng thực).
Quá trình tố tụng, bị đơn bà L trình bày:
Bà L trước đây có mối quan hệ là vợ của ông Nguyễn Văn H. Bà L và ông H chung sống với nhau từ năm 2010, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hiện nay, bà L và ông H đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 139/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024 của TAND huyện Dầu Tiếng. Khi ly hôn, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân.
Bà L là con gái của ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B. Ông K và bà B1 có mối quan hệ là vợ chồng, cùng cư trú chung nhà với bà L tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Trước yêu cầu khởi kiện theo Đơn khởi kiện ngày 16/12/2024 của Ngân hàng TMCP B, bà L có ý kiến như sau:
Ngày 02/11/2023, bà Phạm Thị Mai L cùng chồng là ông Nguyễn Văn H có ký Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 với Ngân hàng TMCP B, nội dung: Bà Phạm Thị Mai L cùng chồng là ông Nguyễn Văn H vay Ngân hàng TMCP B số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng). Mục đích vay là để bù đắp mua bất động sản tại thửa đất số 636, tờ bản đồ số 17 và thửa đất số
5
635, tờ bản đồ số 57 có cùng địa chỉ tại xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; Thời hạn cho vay 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản vay đầu tiên đến hết ngày 03/11/2024. Hai bên thỏa thuận: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 10,05%/năm, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh theo công thức: Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam = Lãi suất cơ sở đồng Việt Nam do Ngân Hàng TMCP B công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ lãi suất là 1,8%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần với ngày hiệu lực áp dụng lãi suất điều chỉnh là ngày cuối cùng của tháng dương lịch của kỳ hạn điều chỉnh, ngày hiệu lực áp dụng lãi suất điều chỉnh đầu tiên là ngày 29/02/2024; Lãi suất cho vay quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Hàng tháng trả gốc vào ngày 15, ngày trả gốc đầu tiên là 15/12/2023; hàng tháng trả lãi vào ngày 15, ngày trả lãi đầu tiên là 15/12/2023.
Đến này 03/11/2023, Ngân hàng B đã giải ngân cho bà Phạm Thị Mai L và chồng là ông Nguyễn Văn H theo Khế ước nhận nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 với số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay trên, bà L đã nhờ cha mẹ là ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B dùng tài sản là quyền sử dụng đất để bảo đảm cho khoản vay, cụ thể:
Thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60 cùng tài sản trên đất có địa chỉ tại Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 834218, Số vào sổ cấp GCN: CS 05659 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/09/2020 cho ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B.
Thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63 cùng tài sản trên đất có địa chỉ tại Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 128717, Số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H 01584/QĐ-UB do UBND huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/07/2006 cho ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B.
Ông K và bà B đã ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0000415515/2023/HĐTC-BacABank-230 ngày 02/11/2023 do Văn Phòng C1, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 02/11/2023, số công chứng: 8346, đăng ký biện pháp đảm bảo ngày 03/11/2023.
Do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên hiện nay bà Phạm Thị Mai L cùng ông Nguyễn Văn H chưa có điều kiện để thanh toán khoản nợ vay trên cho Ngân hàng. Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B, bà L đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng theo như nội dung đơn khởi kiện ngày 16/12/2024. Hiện nay, bà L đang chuẩn bị tiền để tất toán khoản vay trên với Ngân hàng TMCP B nhưng đến nay chưa có tiền để trả, bà L hứa đến ngày 02/6/2025 sẽ thanh toán tất cả các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP B. Bà L đề nghị phía Ngân hàng xem xét giảm cho tiền lãi để có điều kiện thanh toán nợ.
Chứng cứ bị đơn bà L cung cấp:
Bản photo căn cước công dân.
6
Quá trình tố tụng, tại đơn xin vắng mặt nghi ngày 14/4/2025, bị đơn ông H trình bày:
Ông H thống nhất với lời trình bày của bà L và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án.
Chứng cứ ông Hậu cung C:
Bản photo Căn cước công dân; đơn xin vắng mặt ngày 14/4/2025.
Quá trình tố tụng, tại Biên bản lấy lời khai ngày 15/4/2025, ông K và bà B trình bày:
Ông K và bà B có mối quan hệ là vợ chồng, cùng chung sống chung nhà với nhau tại địa chỉ ấp T, xã L, huyện D. Bà Phạm Thị Mai L là con gái của ông K và bà B.
Bà B là người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 89, tờ bản đồ số 63 có địa chỉ tại ấp T, xã L, huyện D theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H01584 QĐ-UB ngày 28/7/2006. Bà B và ông K được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 164 tờ bản đồ số 60 có địa chỉ tại ấp T, xã L, huyện D, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05659 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện D cấp ngày 17/9/2020. Hai thửa đất trên là tài sản chung của ông K và bà B.
Do con gái L và chồng H có nhu cầu vay tiền của Ngân hàng TMCP B nên ông K và bà B đã đồng ý thế chấp 02 thửa đất 164 và thửa đất số 89 nên theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0000415515/2023/HĐTC-BacABank-230 ngày 02/11/2023 cho Ngân hàng TMCP B để bảo đảm cho nghĩa vụ vay tiền của vợ chồng L-H theo Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank 230 ngày 02/11/2023.
Hiện nay, Ngân hàng B4 khởi kiện yêu cầu vợ chồng L-H trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, đồng thời có yêu cầu phát mãi đối với tài sản thế chấp là thửa đất 164, 89 như đã nêu thì ông K và bà B đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Chứng cứ ông K và bà B cung cấp:
Đơn xin vắng mặt ngày 14/4/2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng:
Quá trình tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã thực hiện việc thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, hòa giải và mở phiên tòa đúng quy định. Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà V có mặt; bị đơn bà L có mặt; bị đơn ông H cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K và bà B vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự vắng mặt tại phiên tòa theo quy định.
7
Không kiến nghị khắc phục, bổ sung thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi nghe lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định,
[1] Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà V có mặt; bị đơn bà L có mặt; bị đơn ông H cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K và bà B vắng mặt và đã có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự vắng mặt tại phiên tòa theo quy định.
[2] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần B khởi kiện yêu cầu bị đơn bà L và ông H có nghĩa vụ trả theo Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023 đã ký kết với bị đơn. Bị đơn bà L và ông H có nơi cư trú tại huyện D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng và có quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3.1] Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, các bên đương sự thừa nhận việc: Ngày 02/11/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã ký với bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 với nội dung: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đồng ý cho bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H vay với số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng); Mục đích vay: Vay bù đắp mua bất động sản tọa lạc tại thửa đất số 636, tờ bản đồ số 17 và thửa đất số 635, tờ bản đồ số 57, tại cùng địa chỉ: xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; thời hạn cho vay 12 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân khoản vay đầu tiên đến hết ngày 03/11/2024; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 10,05%/năm, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh theo công thức: Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam = Lãi suất cơ sở đồng Việt Nam do Ngân hàng TMCP B công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ lãi suất là 1,8%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần với ngày hiệu lực áp dụng lãi suất điều chỉnh là ngày cuối cùng của tháng dương lịch của kỳ hạn điều chỉnh, ngày hiệu lực áp dụng lãi suất điều chỉnh đầu tiên là ngày 29/02/2024; Lãi suất cho vay quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn; hàng tháng trả gốc vào ngày 15, ngày trả gốc đầu tiên là 15/12/2023; hàng tháng trả lãi vào ngày 15, ngày trả lãi đầu tiên là 15/12/2023. Ngày 03/11/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đã giải ngân tiền cho bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H theo Khế ước nhận
8
nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60 và thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63 có cùng địa chỉ tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương. Ông H có đơn xin vắng mặt và thống nhất với ý kiến trình bày của bà L. Đây là tình tiết được các bên đương sự thừa nhận, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3.2] Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B, bị đơn bà L đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của phía Ngân hàng theo như nội dung đơn khởi kiện ngày 16/12/2024. Bà L có thiện chí để tất toán khoản vay với Ngân hàng TMCP B nhưng đến nay chưa có tiền để trả, tại phiên tòa bà L hứa đến ngày 02/6/2025 sẽ thanh toán tất cả các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP B. Ông H có đơn xin vắng mặt và thống nhất với ý kiến trình bày của bà L. Xét thấy, bị đơn đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là ý chí tự nguyện của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đây là khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân của ông H và bà L theo quy định tại Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời khi ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 139/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024 của TAND huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương thì ông H và bà L đều không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Vì vậy, bà L và ông H có nghĩa vụ chung về tài sản phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập.
[3.3]. Việc ông H và bà L không thanh toán tiền cho Ngân hàng TMCP B theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023 là vi phạm hợp đồng mà hai bên đã ký kết, vì nghĩa vụ của bên vay tiền được quy định tại các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B đối với bị đơn bà L và ông H là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 16/12/2024 là 2.930.029.014 đồng (trong đó: nợ gốc: 2.862.500.000 đồng, nợ lãi 15.247.962 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả 52.281.052 đồng) là có căn cứ; toàn bộ các khoản lãi, phí (nếu có) phát sinh kể từ ngày 17/12/2024 cho đến ngày bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023, Khế ước nhận nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 03/11/2023.
[3.4]. Để bảo đảm cho khoản vay của bị đơn tại Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông K và bà B đã thế chấp quyền sử dụng đất là các thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60 và thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63 có cùng địa chỉ tại ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương cho nguyên đơn. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ như đã nhận định tại mục [3.2] và [3.3] nên trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn thì nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản là các thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60 và thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63 có cùng
9
địa chỉ tại ấp T, xã L, huyện D để thu hồi nợ theo quy định tại các Điều 292, 293, 295, 299, 317, 318, 320 của Bộ luật Dân sự.
[4] Ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng về phần các thủ tục tố tụng, diễn biến tại phiên tòa và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp là 2.000.000 đồng, nguyên đơn đã tạm ứng toàn bộ nên cần buộc bị đơn thanh toán lại số tiền trên cho nguyên đơn.
[7] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 229, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 292, 293, 295, 299, 317, 318, 320 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ các Điều 91, 94, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng.
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H.
1.1. Buộc bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B theo Hợp đồng tín dụng số 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023, gồm: Tổng dư nợ tạm tính đến hết ngày 16/12/2024 là 2.930.029.014 đồng (hai tỷ chín trăm ba mươi triệu không trăm hai mươi chín nghìn không trăm mười bốn đồng), trong đó: Nợ gốc 2.862.500.000 đồng, nợ lãi 15.247.962 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả: 52.281.052 đồng) và toàn bộ các khoản lãi, phí (nếu có) phát sinh kể từ ngày 17/12/2024 cho đến ngày bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ được quy định tại Hợp đồng tín dụng số
10
0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 02/11/2023 và Khế ước nhận nợ số 01 – 0000415515/2023/HĐTD-BacABank-230 ngày 03/11/2023.
1.2. Trường hợp bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B thì Ngân hàng Thương mại cổ phần B có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm sau để bảo đảm việc thu hồi nợ:
Thửa đất số 164, tờ bản đồ số 60 có địa chỉ tại: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 834218, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05659 do Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh B cấp ngày 17/9/2020 cho ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị B.
Thửa đất số 89, tờ bản đồ số 63 có địa chỉ tại: Ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AÐ 128717, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H 01584/QĐ-UB do UBND huyện D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/7/2006 cho bà Nguyễn Thị B.
Các tài sản bảo đảm trên đang được thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0000415515/2023/HĐTC-BacABank-230 ngày 02/11/2023 được Văn Phòng C1, tỉnh Bình Dương chứng nhận ngày 02/11/2023.
1.3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bà Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H có nghĩa vụ thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP B số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Phạm Thị Mai L và ông Nguyễn Văn H phải chịu số tiền 90.600.580 đồng (chín mươi triệu sáu trăm nghìn năm trăm tám mươi đồng).
2.2. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần B số tiền 45.300.290 đồng (bốn mươi lăm triệu ba trăm nghìn hai trăm chín mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007229 ngày 25/12/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
3. Trường hợp Bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 23/5/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
11
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hồ Sỹ Quý |
Trần Văn Tùng |
|
Nguyễn Thị Lệ Mỹ |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 77/2025/DS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 77/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng BA - Phạm Thị Mai L. Nguyễn Văn H
