Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VINH

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HSST

Ngày: 21/03/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung
  • - Các hội thẩm nhân dân: ông Trần Quốc Đấu và ông Nguyễn Hữu Bình
  • - Thư ký phiên toà: ông Trần Hưng Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh - tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện VKSND thành phố Vinh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Bích Y - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025; tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2025/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Thị Ngọc T; tên gọi khác: không; giới tính: Nữ; sinh năm: 1987; Nơi cư trú: khối D, Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: P, Chung cư C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; họ tên cha: Lê Ngọc Đ (chết); họ tên mẹ: Lê Thị H; sinh năm: 1962; chồng: Hoàng Tuấn A; sinh năm: 1985; có 04 con lớn nhất sinh năm: 2009, nhỏ nhất sinh năm: 2020, tiền sự: không.

    Nhân thân: - Bản án số 65/2013/HS-ST ngày 30/10/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt Lê Thị Ngọc T 5.000.000đ (năm triệu) đồng về tội: “Đánh bạc".

    Tiền án: - Bản án số 142/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt Lê Thị Ngọc T 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng về tội: “Đánh bạc”.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024 được tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Trần Thị B; tên gọi khác: không; giới tính: Nữ; sinh năm: 1977; Nơi cư trú: xóm V, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; họ tên cha: Trần Văn H1 (là Liệt sỹ); họ tên mẹ: Trần Thị C; sinh năm: 1946; chồng: Trần H2; sinh năm: 1964 (đã ly hôn); vợ chồng có 3 con, con lớn nhất sinh năm: 1994; con nhỏ nhất sinh năm: 2003, tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: - Bản án số 302/2015/HS-ST ngày 21/8/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 3 (ba) tháng 10 ngày tù về tội: “Đánh bạc”, đã nộp tiền án phí và thi hành xong bản án ngày 27/11/2015.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024 được tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Vũ Thị D; tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; sinh năm: 1985; nơi cư trú: P Chung cư S, S, số B đường N thuộc khối C, phường Q (trước đây gọi là phường Đ), thành phố V, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Võ Văn T1; sinh năm: 1960; Họ tên mẹ: Vũ Thị H3; sinh năm: 1960; Chồng: Hoàng Ba D1, sinh năm 1986; con: có 02 con sinh năm 2015 và sinh năm 2017; tiền án, tiền sự, nhân thân: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024 tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Nguyễn Thị Kim N; tên gọi khác: không; Giới tính: Nữ; sinh năm: 1986; nơi cư trú: xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T2; sinh năm 1958; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1958; Chồng: Nguyễn Ngọc H4, sinh năm 1985 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự; nhân thân: không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024 tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 22/11/2024, Lê Thị Ngọc T, Trần Thị B và Nguyễn Thị Kim N đến căn hộ số 1207 Chung cư S của Vũ Thị D ở số B, đường N, thuộc phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An để đánh bạc. Tại đây, B, T, N và D cùng thống nhất đánh bạc với nhau bằng hình thức đánh bài “Phỏm” mỗi ván thắng thua từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng. Hình thức đánh “Phỏm” được quy ước như sau: có 3 quân bài trở lên cùng chất rô, cơ, chuồn, bích hoặc có 3, 4 quân bài cùng loại gọi là “Phỏm”. Cách đánh: Dùng bộ bài tu lơ khơ loại 52 quân bài chia thành 4 phần, mỗi phần 9 quân bài, riêng người đánh trước được chia 10 quân, phần còn lại gọi là “bài nọc”, lần lượt đánh theo vòng tròn, người ngồi kế tiếp nếu không ăn được bài tức là không vào “phỏm” thì bốc “bài nọc” và lần lượt đánh đến khi hết “bài nọc”. Mức thắng, thua quy định: “Ù bài” tức là người nào có “Phỏm" gồm 9 quân bài chỉ còn 01 con để đánh gọi là “Ù bài”, thì ba người còn lại mỗi người phải trả cho người “Ù bài” 100.000 đồng. Nếu trong ván bài không có ai “Ù bài” thì hạ bài tính điểm. Việc tính điểm được quy ước A là 1 điểm cho đến K là 13 điểm; Người thắng là người có số điểm ít nhất và được thu tiền của người ít điểm thứ hai 20.000 đồng, ít điểm thứ ba 40.000 đồng và người nhiều điểm nhất 60.000 đồng. Ai không có “phỏm" gọi là “cháy" và phải trả cho người thắng bài 80.000 đồng. Đánh hết ván bài người nào thắng thì được chia bài và đánh đầu của ván tiếp theo. Đến 16 giờ cùng ngày 22/11/2024, thì bị tổ công tác Đội điều tra tổng hợp công an thành phố V, tỉnh Nghệ An vào kiểm tra, thu giữ tại chỗ ngồi đánh bạc gồm: 02 bộ bài tu lơ khơ; thu giữ trên chiếu bạc, tại vị trí ngồi của chị Lê Thị Ngọc T số tiền 2.200.000 đồng; của Trần Thị B số tiền 1.340.000 đồng; của Vũ Thị D số tiền 280.000 đồng; của Nguyễn Thị Kim N số tiền 1.080.000 đồng; thu trong túi xách màu đen của N đang đặt bên cạnh người số tiền 4.500.000 đồng; thu bên trong 01 hộp đựng giấy bằng nhựa màu trắng số tiền 350.000 đồng là tiền các đối tượng góp để mua đồ ăn, thức uống sau mỗi ván đánh có người “Ù”. Tổ công tác đã đưa các đối tượng trên về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ.

Quá trình điều tra Lê Thị Ngọc T, Trần Thị B, Vũ Thị D, Nguyễn Thị Kim N và khai nhận hành vi đánh bạc, số tiền sử dụng đánh bạc và thắng thua như sau: Lê Thị Ngọc T khai trước khi đánh bạc, T có tổng số tiền 1.800.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, T đang thắng số tiền 400.000 đồng. Trần Thị B khai trước khi đánh bạc, B có tổng số tiền 220.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, B đang thắng số tiền 1.120.000 đồng. Vũ Thị D khai trước khi đánh bạc, D có tổng số tiền 950.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, D đang thua số tiền 670.000 đồng. Nguyễn Thị Kim N khai trước khi đánh bạc, N có tổng số tiền 5.180.000 đồng và sử dụng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. N đưa ra trước số tiền 680.000 đồng để đánh bạc, số tiền 4.500.000 đồng còn lại N cất ở trong túi xách và sẽ sử dụng hết để đánh bạc. Khi bị bắt quả tang, N đang thắng số tiền 400.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 9.750.000 đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn).

Tang vật vụ án gồm: 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ gồm 52 quân bài (01 bộ màu xanh, 01 bộ màu đỏ); 01 chiếc vỏ gối, màu hồng, in nhiều hình hoạ tiết có màu sắc, có kích thước 72x52cm, đã qua sử dụng và 01 hộp đựng giấy bằng nhựa, nhãn hiệu "TOP GIA", màu trắng, được chia thành nhiều ngăn, đã qua sử dụng các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh. Số tiền 9.750.000 đồng (Chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn nghìn đồng) hiện được gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N.

Cáo trạng số 65/CT-VKS-HS ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố các bị cáo Lê Thị Ngọc Tú, Trần Thị Bình, Vũ Thị Dương, Nguyễn Thị Kim N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện VKS vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo như sau:

  • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 56, điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Thị Ngọc T 6 tháng đến 9 tháng tù về tội: “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng của bản án số 142/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 tháng đến 27 tháng tù.
  • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s, x khoản 1 điều 51, điều 36, điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Thị B 15 tháng đến 18 tháng tù cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc” nhưng được trừ thời gian tạm giữ 06 (sáu) ngày từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024 bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
  • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạt tiền Vũ Thị D từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”; Phạt tiền Nguyễn Thị Kim N từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng về tội: “Đánh bạc”.
  • - Ngoài ra, còn đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo và xử lý vật chứng là: Căn cứ điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài Tu lơ khơ; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền liên quan đến việc phạm tội đã thu giữ là 9.750.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, lời khai các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2]. Về nội dung:
    • [2.1]. Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Lê Thị Ngọc T, Trần Thị B, Vũ Thị D, Nguyễn Thị Kim N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Như vậy, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đầy đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 16 giờ ngày 22/11/2024, tại căn hộ S Chung cư S của Vũ Thị D ở số B, đường N, thuộc phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Các bị cáo Lê Thị Ngọc T, Trần Thị B, Vũ Thị D và Nguyễn Thị Kim N đã cùng nhau đánh bạc với hình thức đánh phỏm thì bị Công an phát hiện bắt quả tang, tang số đánh bạc phải chịu trách nhiệm hình sự là 9.750.000đ. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 321 BLHS.
    • [2.2]. Vụ án thuộc loại ít nghiêm trọng, có đồng phạm thuộc loại giản đơn, do các bị cáo không khai ai là người khởi xướng nên vai trò của các bị cáo trong vụ án này là ngang nhau. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và gây mất trật tự, trị an trên địa bàn thành phố V nói riêng và an toàn xã hội nói chung. Vì vậy hành vi phạm tội của các bị cáo phải được xử lý nghiêm. Tuy nhiên cần đánh giá nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, vai trò của từng bị cáo để lên mức án và áp dụng loại hình phạt phù hợp, cụ thể như sau:
      • Bị cáo Lê Thị Ngọc T có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này là thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo nên phải tổng hợp hình phạt 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng của bản án số 142/2023/HSST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải.
      • Bị cáo Trần Thị B là người có số tiền tham gia đánh bạc ít nhất nhưng, nhân thân có một tiền án đã được xóa án tích nên phải chịu mức án cao thứ 2 so với đồng bọn. Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, bố bị cáo là Liệt sỹ nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, x khoản 1 điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, tính chất và mức độ phạm tội ít nghiêm trọng, có khả năng tự cải tạo, nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng điều 36 BLHS để cho bị cáo một cơ hội được tự cải tạo giáo dục tại địa phương là đủ nghiêm.
      • Bị cáo Vũ Thị D là người tham gia đánh bạc tích cực và để cho các bị cáo đánh bạc tại nhà mình nên phải chịu mức án cao thứ ba so với đồng bọn. Tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
      • Bị cáo Nguyễn Thị Kim N là người tham gia đánh bạc tích cực, vai trò thứ yếu nhưng cũng phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

      Xét thấy, bị cáo D, bị cáo N có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

      Như đã phân tích ở trên cần áp dụng hình phạt đối với các bị cáo như lời đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa hôm nay là phù hợp.

    • [2.3]. Về hình phạt bổ sung: Đối với tội đánh bạc ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy: Các bị cáo đều là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

      - Đối với bị cáo B, theo quy định tại khoản 3 điều 36 BLHS thì người bị kết án cải tạo không giam giữ bị khấu trừ một phần thu nhập từ 0,5% đến 20% để sung Ngân sách Nhà nước. Xét thấy bị cáo Trần Thị B hiện tại chưa có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không thể khấu trừ thu nhập hàng tháng nhưng cần buộc bị cáo phải thực hiện lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 điều 36 BLHS.

    • [2.4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tu lơ khơ, 01 hộp giấy bằng nhựa. Số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc là 9.750.000đ, đây là số tiền liên quan đến việc phạm tội nên phải tịch thu để sung vào Ngân sách Nhà nước.
    • [2.5] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST.
    • [2.6] Về quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

    Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. [1]. Về hình phạt:
    • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 điều 52, điều 38, điều 56, điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Thị Ngọc T 6 (sáu) tháng tù về tội: “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng của bản án số 142/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm s, x khoản 1 điều 51, điều 36, điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Thị B 15 (mười lăm) tháng tù cải tạo không giam giữ về tội: “Đánh bạc” nhưng được trừ thời gian tạm giữ 06 (sáu) ngày từ ngày 22/11/2024 đến ngày 28/11/2024 bằng 18 (mười tám) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh nơi bị cáo cư trú, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo. Buộc bị cáo phải lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 4 giờ trong một ngày và không quá 5 ngày trong một tuần. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
    • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1, điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạt tiền Vũ Thị D 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu) đồng về tội: “Đánh bạc”.
    • - Căn cứ khoản 1 điều 321, điểm i, s khoản 1 điều 51, điều 58, điều 35 Bộ luật hình sự, xử phạt: Phạt tiền Nguyễn Thị Kim N 20.000.000đ (hai mươi triệu) đồng về tội: “Đánh bạc”.
  2. [2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điều 47 Bộ luật hình sự, xử:
    • - Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài Tu lơ khơ, 01 hộp giấy bằng nhựa có tình trạng và đặc điểm được mô tả tại phiếu nhập vật chứng số NK2025/173 ngày 13/03/2025, hiện có tại kho tang vật của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
    • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền liên quan đến việc phạm tội 9.750.000 (chín triệu, bảy trăm năm mươi ngàn) đồng, hiện có tại Kho bạc Nhà nước N theo Phiếu nhập kho vào ngân sách Nhà nước nhập số TK9911, mã số 98006 ngày 10/12/2024.
  3. [3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức án phí Tòa án: buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. [4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKS ND TP Vinh;
  • - VKS ND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an TP Vinh;
  • - Chi cục THA TP Vinh;
  • - Trại TG công an Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Nhung

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HSST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 77/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm Lê Thị Ngọc Tú phạm tội "Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger