Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HSST

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Đô
  2. Bà Lê Thị Kiều Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang N - Kiểm sát viên.

Ngày 25 và ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 358/2024/HSST ngày 12 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN T, sinh năm: 1986, tại tỉnh Bình Thuận;

Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1965) và bà Kiều Thị N1 (sinh năm 1966). Có 01 người con.

  • - Tiền sự: không; tiền án: không;
  • - Nhân thân: Ngày 10/3/2004, bị Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tại Bản án số 25/2005/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 10/9/2005.
  • Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
  • Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1989. Trú tại: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trước đây, Nguyễn Văn S (sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã T, thành phố P) cùng làm mái hiên chung với Nguyễn Văn H (sinh năm 1989, trú tại khu phố C phường X, thành phố P), sau đó S tách riêng và lấy thương hiệu “Mái hiên Phan Thiết Huy P” để hành nghề riêng thì Nguyễn Văn H thấy trùng thương hiệu của H nên nhiều lần yêu cầu S phải gỡ bỏ chữ “Mái hiên Phan T1” nếu không gỡ bỏ thì sẽ đánh S, không cho S sống ở đất P, nhưng S không gỡ bỏ nên vào khoảng 10 giờ ngày 12/7/2023, S cùng nhóm thợ đang làm mái hiên di động tại địa chỉ số H, đường N, phường P, thành phố P thì H đến gặp S, giữa H và S xảy ra xô xát, đòi đánh nhau thì được mọi người can ngăn, sau đó S nói với H: “Chiều nay sẽ đến phòng trọ của H để nói chuyện trong vấn đề làm ăn kinh doanh”, H đồng ý. Sau đó, S đi làm về nhà tại thôn T, xã T, thành phố P, S kể lại việc Nguyễn Văn H đòi đánh và hẹn gặp để nói chuyện trong việc kinh doanh làm ăn cho Kiều Thị N1 (sinh năm 1966, là mẹ của S), lúc này tại nhà S có Nguyễn Văn T (là anh của S), Dương Duy T2 (sinh năm 2002, là bạn của S), Nguyễn Văn H1 (sinh năm 2003, là người làm mái hiên chung với S), Trần Anh T3 (sinh năm 2004, là cháu của S), Phan Vũ Nhật T4 (sinh năm 1994, là bạn của S) nên S nhờ những người trên cùng đi gặp H để nói chuyện trong vấn đề làm ăn kinh doanh với S như đã hẹn với H thì tất cả đồng ý.

Vào khoảng 15 giờ ngày 12/7/2023, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T, Kiều Thị N1, Nguyễn Văn H1, Trần Anh T3, Dương Duy T2, Phan Vũ Nhật T4 chạy xe mô tô đến nhà trọ của Nguyễn Văn H thuộc khu phố C, phường X, thành phố P thì không có H nên cả nhóm đi về. Trên đường về, lúc này khoảng 15 giờ 30 phút thì H gọi điện thoại cho S nói: “Mới về qua đây nói chuyện” thì S nói mọi người quay lại nhà trọ của H.

Khi nhóm của S đến, thấy H đang ngồi uống bia với anh Hồ Quang T5 (sinh năm 1980, trú tại khu phố D, phường X, thành phố P) trước phòng trọ của H thì H chỉ tay về phía S và nói: “Mày tới đây ngồi nói chuyện với tao”, rồi chỉ tay về phía bà N1, H nói: “Còn bà đứng đó tính sau”, lúc này S đi đến nơi H ngồi, S ngồi ghế bên trái của H, còn T, N1, H1, T3, T2, T4 đứng cách H và S khoảng 3 mét. Trong lúc H và S nói chuyện thì H dùng tay phải đánh vào vùng mặt của S, thì T và những người đi cùng xông tới, H bỏ chạy, H leo qua tường rao nhà hàng xóm và dùng đá, gạch ném về nhóm của S, nhóm của S cũng nhặt gạch, đá ném lại H, nhưng không ai xảy ra thương tích. Lúc này T thấy cây dao Thái Lan có cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng ở dưới nền nhà nơi H ở nên T nhặt lấy cây dao dấu vào phía sau cánh tay phải, rồi T đi ra phía trước nơi để xe, nhưng không thấy mọi người đi cùng ra nên T quay lại thì thấy H đang cầm 01 cây rựa đứng tại bàn nhậu, trên bàn nhậu có để 01 cây xẻng và H đang nói với nhóm của S: “Thằng nào vào sẽ chém thằng đó”, do tức giận vì bị H thách thức nên T tay phải cầm cây dao Thái lan đi đến đâm 02 nhát trúng vào vùng lưng bên phải của H, T đưa cây dao lên định đâm tiếp thì H đưa tay trái ra đỡ, cùng lúc Hồ Quang T5, S, T3 đến can ngăn ôm, kéo người Thọ lại, H bỏ chạy thì T với tay đâm 01 nhát trúng vào vùng mông của H. Sau khi gây thương tích cho H, T cùng những người đi cùng bỏ ra về, H được Hồ Quang T5 đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh B.

Vật chứng của vụ án:

01 cây dao Thái lan có cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng là hung khí do Nguyễn Văn T dùng đâm bị hại H, T đã ném bỏ tại khu vực hồ tôm Chợ V thuộc khu phố D, phường P, thành phố P, Cơ quan Công an đã truy tìm nhưng không thu hồi được.

Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 487 ngày 14/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Nguyễn Văn H như sau:

1. Các kết quả chính:

  • - Vết thương vùng lưng bên phải ngang cung sau xương sườn 6,7 thấu ngực, tràn máu, tràn khí khoang màng phổi phải và trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện dày dính màng phổi phải, để lại sẹo vết mổ kích thước: (4 x 1,3)cm; sẹo vết thương kích thước: (5 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thế là: 11% + 2% + 2%.
  • - Vết thương phần mềm vùng lưng phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: (5,1 x 1,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
  • - Vết thương phần mềm vùng 1/3 dưới mặt sau cánh tay trái đã được điều trị, hiện để lại seo kích thước: (5,5 x 1,5)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 3%.
  • - Vết thương phần mềm mặt sau ngoài mông trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: (2 x 1,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 2%.

2. Kết luận:

  • - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn H tại thời điểm giám định là 21% (Hai mốt phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
  • - Kết luận khác:
    • + Vết thương vùng lưng bên phải ngang cung sau xương sườn 6,7 do vật sắc nhọn gây ra; các vết thương vùng lưng bên phải, mông trái do vật sắc nhọn gây ra; các vết thương vùng lưng bên phải, cánh tay trái, mông trái do vật sắc gây ra.
    • + Các vết thương bên phải ngang cung sau xương sườn 6 - 7 có chiều hướng tác động từ sau ra trước, với lực tác động trung bình; Các vết thương vùng lưng bên phải, mặt sau ngoài mông trái có chiều hướng tác động từ sau ra trước, với lực tác động nhẹ; Vết thương cánh tay trái có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương, với lực tác động nhẹ.
    • + Hiện tại không xác định cổ tật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh B nêu trên.

Bản cáo trạng số 59/CT – VKSPT-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức hình phạt từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù.

Về bồi thường dân sự:

Tại phiên toà, bị hại Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường số tiền 52.858.905 đồng, gồm: tiền thuốc điều trị là 14.858.905 đồng, tiền công nuôi bệnh 8.000.000 đồng và tiền nằm viện, tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng. Bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền 52.858.905 đồng cho bị hại H. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, còn lại số tiền 42.858.905 đồng, bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt, bị cáo hứa sẽ học tập rèn luyện để trở thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra Công an thành phố P và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 12/7/2023, tại nhà trọ của Nguyễn Văn H thuộc khu phố C, phường X, thành phố P. Do mâu thuẫn nhỏ nhặt vì Nguyễn Văn H có hành vi thách thức nên Nguyễn Văn T lấy 01 cây dao Thái lan, cán nhựa màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng tại nhà trọ của Nguyễn Văn H đâm 02 nhát trúng vào vùng lưng bên phải, 01 nhát trúng vào phần mềm mặt sau cánh tay trái và 01 nhát trúng vào mông trái của Nguyễn Văn H, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 21%.

Xét thấy Nguyễn Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Do đó đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm bị hại nhiều nhát thuộc tình tiết định khung hình phạt dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, nhưng nhậu quả là tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21 % theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự, do đó bị cáo phải chịu mức hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu. Vì vậy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và cũng là để giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, xét thấy tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo an tâm rèn luyện tu dưỡng sớm trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Bị hại Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn T phải bồi thường số tiền 52.858.905 đồng, gồm: tiền thuốc điều trị là 14.858.905 đồng, tiền công nuôi bệnh 8.000.000 đồng và tiền nằm viện, tổn thất tinh thần 30.000.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý bồi thường số tiền 52.858.905 đồng cho bị hại H. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, còn lại số tiền 42.858.905 đồng, bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại. Do đó buộc bị cáo T phải tiếp tục bồi thường số tiền 42.858.905 đồng còn lại cho bị hại H.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 cây dao Thái lan có cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại màu trắng là hung khí bị cáo T dùng đâm bị hại H, bị cáo T đã ném bỏ tại khu vực hồ tôm Chợ V thuộc khu phố D, phường P, thành phố P, Cơ quan Công an đã truy tìm nhưng không thu hồi được, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Đối với Nguyễn Văn S, Kiều Thị N1, Dương Duy T2, Nguyễn Văn H1, Trần Anh T3, Phan Vũ Nhật T4 không tham gia cùng T gây thương cho H nên không có căn cứ để xử lý xử lý hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Về bồi thường dân sự:

Áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 và khoản 1 Điều 590 của Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục bồi thường số tiền 42.858.905 (Bốn mươi hai triệu tám trăm năm mươi tám nghìn chín trăm lẻ năm) đồng cho bị hại Nguyễn Văn H.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 2.142.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-02-2025).

Nơi nhận

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Ái Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 77/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thọ - "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger