Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 77/2025/HS - ST.

Ngày 23/01/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

Ông Lê Cát Tưởng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 12 năm 2024 và QĐ hoãn phiên toà số 15/QĐ - HPT ngày 20/12/2024; QĐ hoãn phiên toà số 21/QĐ - HPT ngày 27/12/2024 và QĐ hoãn phiên toà số 27/QĐ - HPT ngày 14/01/2025 đối với các bị cáo:

  1. Lê Thị H - sinh năm 1981; ĐKNKTT tại: SN D T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: SN B T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hoá 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết P (đã chết) và bà Ngô Thị M; chồng là Nguyễn Ngọc L và có 01 con, con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ 23/5/2024 đến ngày 31/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Thị Ngọc Á - sinh năm 1997; ĐKNKTT tại: S N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: SN A N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C1 (đã chết) và bà Lê Thị H1; chồng là Phạm Văn T và có 03 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh 2023; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ 03/6/2024 đến ngày 11/6/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
  3. Trần Đình T1 - sinh năm 1973; ĐKNKTT tai: S C, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện nay: S Y, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: LĐTD; trình độ văn hoá 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình N (đã chết) và bà Lê Thị B (đã chết); vợ là Ngô Thị H2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ 23/5/2024 đến ngày 31/5/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Trần Thị N1 - Sinh năm: 1990 - Vắng mặt.

Nơi ở hiện nay: SN A N, phường L, thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo từ quần chúng nhân dân về việc Lê Thị H có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự khu phố. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành triệu tập Lê Thị H lên làm việc. Ngày 23 tháng 5 năm 2024, Lê Thị H đến Công an thành phố T đầu thú về hành vi đánh bạc dưới hình thức “mua, bán số lô, số đề” với Trần Đình T1 và Nguyễn Thị Ngọc Á.

Ngoài hành vi đánh bạc với Trần Đình T1, Nguyễn Thị Ngọc Á, Lê Thị H còn thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức “mua, bán số lô, số đề” với Trần Thị N1. Tại Cơ quan Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận:

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, Lê Thị H sử dụng số điện thoại 0343.522.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0977.114.xxx của Trần Đình T1 để xác nhận bán cho T1 5.379 điểm đề, với giá 730đ/ 01 điểm; 540 điểm lô, với giá 21.800đ/ 01 điểm; 5 điểm lô xiên 3, với giá 7.300đ/ 01 điểm; 210 điểm đề 3 càng, với giá 800đ/ 01 điểm, tương ứng: 15.903.170đ. Kết quả Trần Đình T1 trúng 32 điểm đề, với giá 70.000đ/ 01 điểm và 204 điểm lô, với giá 80.000đ/01 điểm, tương ứng: 18.640.000đ. Vì vậy số tiền đánh bạc giữa T1 và H là 34.543.170 đồng.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, H sử dụng số điện thoại 0343.522.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0329.834.xxx của Nguyễn Thị Ngọc Á để chuyển cho Ánh 1.250 điểm đề, 225 điểm lô (số lô, số đề của Trần Đình T1), nhằm được hưởng số tiền chênh lệch 46.250 đồng và trực tiếp mua của Á 31.375 điểm đề, 315 điểm lô, 1.080 điểm đề ba càng và 58 điểm lô xiên. Á và H thống nhất 01 điểm lô có giá 21.650 đồng; 01 điểm đề có giá 720 đồng; 01 điểm đề ba càng có giá 700 đồng và 01 điểm lô xiên có giá 6.500 đồng. Tổng số tiền số lô, số đề H mua của Á là 36.314.000 đồng. Kết quả H trúng thưởng 580 điểm đề, với giá 70.000đ/ 01 điểm và 190 điểm lô, với giá 80.000đ/ 01 điểm, tương ứng 55.800.000đ. Vì vậy số tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ngọc Á và Lê Thị H là 92.114.000 đồng.

Cùng ngày 22 tháng 5 năm 2024, ngoài hành vi đánh bạc với Trần Đình T1 và Nguyễn Thị Ngọc Á, Lê Thị H còn đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Trần Thị N1, cụ thể:

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, Lê Thị H sử dụng tài khoản Zalo “Lê Hoa” được đăng ký từ số điện thoại 0343.522.xxx để nhắn tin đến tài khoản Zalo của Trần Thị N1 là “Trần Ngoan” để xác nhận bán cho N1 300 điểm đề, với giá 730đ/ 01 điểm; 10 điểm lô, với giá 21.800đ/ 01 điểm, tương ứng 437.000đ. N1 không trúng thưởng, vì vậy số tiền đánh bạc giữa N1 và H là 437.000 đồng.

Kết quả trưng cầu giám định:

Ngày 04 tháng 7 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T Quyết định trưng cầu giám định phục hồi dữ liệu trong các điện thoại thu giữ của Trần Đình T1, Lê Thị H và Nguyễn Thị Ngọc Á.

Tại bản Kết luận giám định số 5175/KL - KTHS ngày 13/9/2024 của V Bộ C2 tìm thấy:

- Trong máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max thu giữ từ Nguyễn Thị Ngọc Á tìm thấy: 30 tin nhắn SMS, 02 tin nhắn Zalo, 930 file ảnh. Tuy nhiêm không xác định được dữ liệu được tìm thấy có liên quan đến hành vi đánh bạc hay không. Chi tiết thể hiện trong thư mục “A1” lưu trữ trong ổ cứng USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong SIM.

- Trong máy điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy A05S thu giữ từ Nguyễn Thị Ngọc Á tìm thấy: 33 tin nhắn SMS, 2731 file ảnh. Tuy nhiêm không xác định được dữ liệu được tìm thấy có liên quan đến hành vi đánh bạc hay không. Chi tiết thể hiện trong thư mục “A2” lưu trữ trong ổ cứng USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong SIM.

- Trong máy điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ từ Trần Đình T1 tìm thấy: 08 tin nhắn SMS. Tuy nhiêm không xác định được dữ liệu được tìm thấy có liên quan đến hành vi đánh bạc hay không. Chi tiết thể hiện trong thư mục “A3” lưu trữ trong ổ cứng USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong SIM.

- Trong máy điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ từ Lê Thị H tìm thấy: 215 tin nhắn SMS, 20264 file ảnh. Tuy nhiên không xác định được dữ liệu được tìm thấy có liên quan đến hành vi đánh bạc hay không. Chi tiết thể hiện trong thư mục “ A4” lưu trữ trong ổ cứng USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong SIM.

- Chụp được 06 file ảnh nội dung tin nhăn Zalo. Tuy nhiên không xác định được dữ liệu được tìm thấy có liên quan đến hành vi đánh bạc hay không. Chi tiết thể hiện trong thư mục “A4” lưu trữ trong USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong SIM.

Về cách thức đánh bạc và tính thắng thua:

Đối với hành vi đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề: Các bị can và người vi phạm lợi dụng kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết miền B mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút hằng ngày để làm số lô, số đề. Người mua, người bán thống nhất số lô, số đề và giá bán với nhau trước khi kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày. Người mua phải trả tiền cho người bán để được lựa chọn các số lô, số đề. Người bán là người nhận các số lô, số đề của người mua và phải trả tiền thắng nếu người mua trúng thưởng các số lô, số đề và ngược lại nếu người mua không trúng thưởng thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền mua số lô, số đề của người mua.

Tiền (tiền Việt Nam đồng) được người chơi quy đổi thành “điểm” khi mua số lô đề. Khi trúng thưởng sẽ được quy đổi ngược lại thành tiền, nếu thua sẽ bị mất số tiền mua số lô, số đề ban đầu.

Số đề khi nhắn tin được ký hiệu là “D”, “De”, “Đe” hoặc “Đề”, là số có 2 chữ số tự nhiên từ 00 đến 99 do người chơi tùy ý lựa chọn. Mỗi điểm đề tùy theo từng người chơi có giá trị 720 đồng đến 800 đồng, được đối chiếu với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút hằng ngày, 01 điểm đề khi trúng được trả thưởng 70.000đ.

Số đề ba càng khi nhắn tin được ký hiệu là “3c” hoặc “ Đề 3c”, là số có 2 chữ số tự nhiên từ 00 đến 99 do người chơi tuỳ ý tự lựa chọn. Mỗi điểm đề tuỳ theo từng người chơi có giá trị 730 đồng đến 800 đồng, được đối chiếu với 02 số cuối của giải đặc biệt kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng lúc 18 giờ 30 phút hằng ngày, 01 điểm đề khi trúng được trả thưởng 70.000 đồng.

Số lô được ký hiệu là “Lo”, “Lô” hoặc “L” là số có 2 chữ số tự nhiên từ 00 đến 99 do người chơi tùy ý lựa chọn. Mỗi điểm lô có giá 21.700đ, đến 22.500đ được đối chiếu với 02 số cuối của tất cả các giải kết quả Xổ số kiến thiết Miền B, 01 điểm lô khi trúng được trả thưởng 80.000đ. Nếu kết quả các số lô từ hai lượt trở lên thì số tiền thưởng được nhân lên tương ứng.

Đề hệ được ký hiệu là “hệ”, “đề hệ” “he”, de he” là tập hợp 08 số đề, ví dụ: hệ 86 gồm các số: 86, 68, 81, 18, 66, 88, 36, 63, hệ đề kép gồm 04 số đề, ví dụ: hệ 16 gồm các số: 16, 61, 66, 11. Đề tổng lẻ là số đề có tổng hai chữ số tạo ra một số lẻ, ví dụ: 12, 23,1ô 14.

Lô xiên là tập hợp 2,3,4 số lô lẻ ghép lại nếu trúng thưởng một điểm lô xiên 2 được số tiền 120.000 đồng, xiên 2 được số tiền 400.000 đồng, xiên 4 được số tiền 1.000.000 đồng.

Trong vụ án này, hành vi đánh bạc của các bị can bị đều bị phát hiện sau giờ mở thưởng kết quả sổ xố kiến thiết Miền bắc. Đối với số tiền đánh bạc thắng, thua các bị can chưa thanh toán với nhau.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

- Thu giữ của Lê Thị H 01 (một) điện thoại di động Oppo F5 bên trong lắp sim số điện thoại 0343.522.xxx, số imei 1: 867816031664437, số imei 2: 867816031664429.

- Thu giữ của Trần Đình T1 01 (một) điện thoại di động Nokia bên trong lắp sim số điện thoại 0977.114.xxx, số seri 1: 357693105332762; số seri 2: 357693105832761.

- Quá trình khám xét chỗ ở của Nguyễn Thị Ngọc Á thu giữ 01 (một) điện thoại Iphone XS Max, số imei 353105101689503, bên trong lắp sim số điện thoại 0329.834.xxx và 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy A05S bên trong lắp sim số điện thoại 0981.297.xxx, số imei: 357533640211107, số imei 2: 35883370021107.

Xử lý vật chứng

- Đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy A05S bên trong lắp sim số điện thoại 0981.297.xxx của Nguyễn Thị Ngọc Á, bị can khai báo sử dụng để liên lạc cá nhân, quá trình kiểm tra và phục hồi dữ liệu trong điện thoại không phát hiện các tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật của bị can. Vì vậy Cơ quan CSĐT - C3 quyết định xử lý đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Thị Ngọc Á .

- Đối với những chiếc điện thoại di động Oppo F5, Nokia 150, Iphone XS Max thu giữ của các bị can Lê Thị H, Trần Đình T1 và Nguyễn Thị Ngọc Á là phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an thành phố T chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

- Đối với 01 ổ cứng USB lưu giữ liệu phục hồi Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án để phục vụ việc truy tố, xét xử.

Đối với Trần Thị N1 có hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, bản thân N1 chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc nên Cơ quan điều tra chuyển Công an thành phố T đã xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng về hành vi “Mua các số lô, số đề” quy định tại khoản 1, Điều 26 nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ

Cáo trạng số 331/CT-VKS-TPTH ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Thị Ngọc Á về tội “Đánh bạc” theo quy định điểm b khoản 2 Điều 321 của BLHS. Bị cáo Trần Đình T1 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của BLHS.

Phần luận tội đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như quyết định của bản cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của BLHS (đối với Lê Thị H và Nguyễn Thị Ngọc Á); khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của BLHS (đối với Trần Đình T1). Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng; Nguyễn Thị Ngọc Á 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng; bị cáo Trần Đình T1 từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, nguyên nhân dẫn đến phạm tội để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất và cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thừa nhận vào gày 22/5/2024, Lê Thị H, Nguyễn Thị Ngọc Á và Trần Đình T1 đã có hành vi đánh bạc với nhau dưới hình thức mua bán số lô, số đề thông qua tin nhắn điện thoại di động thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T phát hiện thu giữ tang vật. Tổng số tiền đánh bạc của Lê Thị H là 118.122.920đ; số tiền đánh bạc của Nguyễn Thị Ngọc Á là 92.114.000đ; số tiền đánh bạc của Trần Đình T1 là 34.543.170đ.

[3] Đánh giá tính chất chung của vụ án: Là vụ án có nhiều bị cáo tham gia đánh bạc với nhau cách thức chơi là sử dụng điện thoại số lô, số đề cho nhau và căn cứ vào kết quả xổ số trong ngày để xác định được thua bằng tiền hành vi này là một trong những tệ nạn xã hội mà hiện nay đang được dư luận rất quan tâm vì nó làm ảnh hưởng xấu đến nhiều lĩnh vực trong đời sống kinh tế xã hội, tạo ra sự bất hòa trong nhân dân, ngay cả đến hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân, cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và mang tính phòng ngừa chung.

[4] Vai trò và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn và không có sự cấu kết phân công vai trò chặt chẽ với nhau, khi thực hiện hành vi đánh bạc không có người khởi xướng, rủ rê. Đối với các bị cáo bị truy tố, xét xử ở khoản 2 Điều 321 của BLHS thì bị cáo Lê Thị H là đối tượng mua, bán số lô, số đề của nhiều đối tượng và số tiền tham gia đánh bạc nhiều hơn bị cáo khác nên xếp H ở vai trò đầu. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á số tiền tham gia đánh bạc ít hơn Lê Thị H, nên xếp Á ở vai trò thứ 2. Đối với bị cáo Trần Đình T1 bị truy tố, xét xử ở khoản 1 Điều 321 của BLHS và mua, bán số lô, số đề với số tiền ít nên bị cáo chịu mức án thấp nhất.

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả 03 bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Cả 03 bị cáo có chung tình tiết giảm nhẹ TNHS là thành khẩn khai báo và sau khi phạm tội đến Cơ quan Công an đầu thú để khai nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Trần Đình T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo Lê Thị H tham gia ủng hộ quỹ cho các cháu làng trẻ SOS, thâm gia ủng hộ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo, gia đình chính sách theo Chỉ thị 22 - CT/TU của Uỷ ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Đối với các bị cáo bị xét xử ở khoản 2 thì bị cáo Lê Thị H được xếp ở vai trò thứ nhất, có số tiền tham gia đánh bạc nhiều hơn và nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn so với bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á, còn bị cáo Á có số tiền tham gia đánh bạc và có ít tình tiết giảm nhẹ hơn so với bị cáo Lê Thị H, nên xếp mức án của bị cáo H và Á bằng nhau là phù hợp. Còn bị cáo Trần Đình T1 xét xử ở khoản 1 và có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS nên bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, vai trò tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và lượng tiền dùng vào việc phạm tội thì cả 03 bị cáo nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, nên xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi cộng đồng xã hội mà áp dụng Điều 65 của BLHS để cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ sức giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo.

[5] Về biện pháp tư pháp: Khoản tiền đánh bạc của các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Thị Ngọc Á và Trần Đình T1 được xác định là phương tiện dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có cần áp dụng Điều 47 của BLHS cần truy thu để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước. Các bị cáo ghi số lô, số đề với nhau và tiền thắng bạc của các bị cáo chưa trả cho nhau gồm:

Truy thu của bị cáo Lê Thị H số tiền 30.542.750 đồng (tiền H mua số lô, số đề của Á) và 15.393.750 đồng (tiền mua số lô, đề của T1 trúng mà H ôm) và số tiền H được hưởng hoa hồng 46.250 đồng. Tổng số tiền truy thu của H là 45.982.750 đồng.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á số tiền 55.800.000 đồng (tiền lô, đề của Lê Thị H trúng).

Truy thu của bị cáo Trần Đình T1 số tiền 15.903.170 đồng (tiền T1 đánh số lô, số đề chưa thanh toán cho H).

Truy thu từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị N1 số tiền 437.000 đồng là tiền Ngoan đánh số lô, số để chưa thanh toán cho H.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động Nokia (thu giữ của Trần Đình T1); 01 điện thoại di động Iphone Xs Max ( thu giữ của Nguyễn Thị Ngọc Á); 01 điện thoại di động OPPO F5 (thu giữ của Lê Thị H) là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của BLHS (đối với Lê Thị H và Nguyễn Thị Ngọc Á). Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 của BLHS (đối với Trần Đình T1). Điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS. Khoản 1; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án (đối với 03 bị cáo).

Tuyên bố: Các bị cáo Lê Thị H, Nguyễn Thị Ngọc Á và Trần Đình T1 phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt:

  1. Bị cáo Lê Thị H 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  2. Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Bị cáo Trần Đình T1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị H cho UBND phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Á cho UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Giao bị cáo Trần Đình T1 cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động N2 màu đen, dạng máy bàn phím, Imel: 357693105332762, điện thoại gắn kèm sim (thu của Trần Đình T1); 01 điện thoại di động N2, số Imel: 353105101689503, điện thoại gắn kèm sim (thu của Nguyễn Thị Ngọc Á); 01 điện thoại di động OPPO F5, số Imel: 867816031664437, điện thoại gắn kèm sim (thu của Lê Thị H). Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng số: 18/2025/THA ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSNDTPTH;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 77/2025/HS - ST. ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ về đánh bạc (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 77/2025/HS - ST.
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger