|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 18-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Minh Hằng
Ông Phạm Đức Hoài
Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền- Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trương Nam N, sinh ngày 02/10/1964; Tại huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang;
Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 4/12;
Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Trương Văn B, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Lê Thị B1, sinh năm 1937 (đã chết); Vợ: Trần Thị H, sinh năm 1968; Con: có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1992;
Tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 25/7/2023 bị UBND xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi trộm cắp tài sản (Đã nộp phạt ngày 26/7/2023).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 21/8//2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: - Anh Trần Minh G, sinh năm 1994, có mặt
- Chị Trương Huỳnh N1, sinh năm 1997, có mặt.
Trú tại: Ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 28/6/2024 Trương Nam N cầm cái lú dây (loại đặt Tôm, C) đi bộ từ nhà đến phần đất nuôi tôm, cua của anh Trần Minh G (sinh năm 1994, trú ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang) lén lút đặt cái lú dây xuống vuông, sau đó Trương Nam N đi về nhà. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 29/6/2024, Trương Nam N đi bộ từ nhà đến chỗ đặt lú dây trên phần đất nuôi tôm, cua của anh G, Trương Nam N dở cái lú lên nhìn thấy có nhiều cua trong lú dây. Sau đó Trương Nam N đi xuống dưới vuông quắn lú dây lại rồi cầm trên tay và bước lên bờ thì bị ông G và vợ là bà Trương Huỳnh N1 phát hiện bắt quả tang cùng tang vật là 7,6 kg cua, trong đó có 06 kg cua gạch loại loại 3 đến 04 con/01kg và 1,6 kg cua thịt loại 04 con/01kg. Tổng giá trị tài sản qua định giá là 2.388.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng) .
Vật chứng của vụ án gồm:
- + 01 (Một) cái lú dây dài 8,8 mét có 25 khung sắt;
- + 7,6 kg cua, trong đó có 06 kg cua gạch loại loại 3 đến 04 con/01kg và 1,6 kg cua thịt loại 04 con/01kg. (Công an xã T đã giao trả cho anh Trần Minh G).
Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện A, tỉnh Kiên Giang kết luận: 06 kg cua gạch loại 3 đến 04 con/01kg có giá trị 2.100.000 đồng; 1,6 kg cua thịt loại 04 con/01kg, có giá trị 288.000 đồng.
* Tại bản Cáo trạng số 81/CT-VKS-AB ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trương Nam N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Nam N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01 (Một) cáo lú dây dài 8,8m có 25 khung sắt.
8,8m có 25 khung sắt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 19 giờ ngày 28/6/2024 bị cáo dùng lú (loại dụng cụ đặt tôm, cua) lén lút đặt xuống vuông nuôi cua của anh G, chị N1. Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 29/6/2024, bị cáo dở cái lú, trong lú có nhiều cua thì bị vợ chồng anh G, chị N1 bắt quả tang cùng tang vật. Tổng số cua trong lú là 7,6 kg (trong đó có 06 kg cua gạch và 1,6 kg cua thịt). Tổng giá trị tài sản qua định giá là 2.388.000 đồng (Hai triệu ba trăm tám mươi tám nghìn đồng). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội quy định pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
[5] Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01 (Một) cái lú dây dài 8,8m có 25 khung sắt.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương Nam N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trương Nam N, 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 21/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên miễn xét.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) cái lú dây dài 8,8m có 25 khung sắt
(Theo Quyết định chuyển giao vật chứng 49/QĐ-VKSAB ngày 17/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
