|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 77/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lượng - Phó Phòng giáo dục huyện Kiến Thụy
Bà Khúc Thị Minh - Cán bộ hưu trí thị trấn Núi Đối (nguyên Hiệu trưởng Trường Tiểu học xã Đại Hà).
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66 /2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Kim Đ, sinh ngày 23/3/2006 tại Hải Phòng (tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 11 tháng 21 ngày). Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim M và bà Bùi Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024; đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận K, thành phố Hải Phòng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” theo Lệnh Tạm giam số 1065 ngày 16 /10/ 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K; có mặt.
- Phạm Duy S, sinh ngày 14/9/2006 tại Hải Phòng (tính đến ngày phạm tội 17 tuổi 06 tháng). Nơi cư trú: Thôn E, xã D, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Duy C và bà Nguyễn Thị L1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Duy S: Bà Trương Thị H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Bị hại:
- Chị Phạm Thị L2, sinh năm 1979 và anh Vũ Thọ H1, sinh năm 1978; cùng nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bà Mạc Thị L3, sinh năm 1965; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Bùi Duy N, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn D, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Đình H2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Bùi Thị G, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Cao Thị Q, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sáng ngày 04/4/2024, Nguyễn Kim Đ điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 16N5 -0626 của gia đình đến nhà Phạm Duy S, rủ S đi trộm cắp tài sản. S đồng ý và điều khiển xe mô tô BKS 16N5 - 0626 chở Đ đến khu vực đường cạnh miếu Q1 thuộc thôn D, xã D, huyện K thì phát hiện thấy chiếc xe đạp mini màu sơn xanh, giỏ xe màu trắng của bà Nguyễn Thị Đ1 để ở gần miếu, không có người trông coi. Đ xuống lấy xe và điều khiển xe đạp, S điều khiển xe mô tô đẩy Đ cùng xe đạp đến nhà chị Bùi Thị G ở thôn B, xã K, huyện K; Đ bảo S mang xe đạp vào bán cho chị G thì bị lực lượng công an phát hiện bắt giữ, thu giữ chiếc xe đạp trên và số tiền 625.000 đồng của S; thu của chị G 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu xanh, BKS 16K1 – 3239 và 01 giấy đăng ký xe mô tô. Đ bỏ chạy đến chiều cùng ngày đến trụ sở Công an xã Đ trình diện và giao nộp 01 xe mô tô BKS 16N5 - 0626.
Tại cơ quan điều tra, Đ và S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai: Ngoài lần này, Đ và S còn cùng nhau 03 lần trộm cắp tài sản của những người làm đồng trên địa bàn huyện K để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Chiều ngày 14/3/2024, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu trắng không gắn biển kiểm soát (do Đ mượn của bạn tên là T, chưa xác định được địa chỉ) đến nhà rủ S đi trộm tài sản, S đồng ý. Đ chở S đến khu vực cánh đồng thuộc thôn T, xã N, huyện K, thấy chiếc xe mô tô BKS 16H7-5339 của bà Phạm Thị L2, dựng trên đường không có người trông coi. Đ và S lấy chiếc xe này mang đến cửa hàng mua bán phế liệu của anh Nguyễn Đình H2 ở thôn B, xã K, huyện K; Đ bảo S mang xe vào bán, Đ ở ngoài. S nói với anh H2 là xe của S đã cũ, không sử dụng nữa nên muốn bán. Anh H2 đồng ý mua với giá 500.000 đồng. Sau khi bán xe, S đưa cho Đ 250.000 đồng. Đ điều khiển xe mô tô Vision đến quán X trả T.
Lần thứ hai: Sáng ngày 21/3/2024, Đ điều khiển xe mô tô BKS 16N5 - 0626 của gia đình đến nhà S, rủ S đi trộm cắp tài sản. S đồng ý điều khiển xe chở Đ đến khu vực cánh đồng thuộc thôn H, xã N, huyện K, phát hiện chiếc xe máy điện không biển kiểm soát, loại xe M133 của bà Mạc Thị L3 dựng sát mép đường 402, không có người trông coi. Cả hai mang xe về nhà Sinh cất giấu. Sau đó, Đ rủ T về nhà S chơi. T hỏi xe máy điện của ai. Đ nói: “Xe của mẹ tao bị mất chìa khóa”. Sinh và T điều khiển xe mô tô BKS 16N5 - 0626 đẩy Đ ngồi trên xe máy điện đến quán sửa xe của anh Nguyễn Công H3 ở thôn Đ, xã N, huyện K thay ổ khóa hết 150.000 đồng. Do không có tiền nên S ở lại chờ Đ và T đi bán xe máy điện rồi về thanh toán tiền thay ổ khóa. T điều khiển xe máy điện chở Đ đến cửa hàng M1, ở thôn C, xã T, huyện K. Đ mang xe vào bán và nói “Xe của em không đi học nữa nên em muốn bán”. Chị Cao Thị Q là chủ cửa hàng Đ2 mua với giá 2.200.000 đồng. Sau đó, Đ trả tiền thay ổ khóa hết 150.000 đồng. Số tiền còn lại Đ chi tiêu cá nhân, chưa chia cho S.
Lần thứ ba: Chiều ngày 03/4/2024, Đ điều khiển xe mô tô BKS 16N5 - 0626 đến nhà S, rủ Sinh đi trộm tài sản, S đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, S chở Đ qua khu vực nghĩa trang thuộc thôn C, xã Đ, huyện K, phát hiện thấy 01 xe mô tô BKS 16K1 – 3239 của anh Bùi Duy N để ở rìa đường, cạnh khu vực nghĩa trang, trên xe có cắm chìa khóa ở ổ khóa điện. Đ xuống lấy xe và điều khiển xe mô tô đi về hướng xã T. Trên đường đi Đ và S dừng xe kiểm tra thì thấy trong cốp xe có đăng ký xe mô tô nên cả hai thống nhất đến xã T, huyện K bán xe. Khi đến cửa hàng thu mua sắt vụn ở xã T; S mang xe mô tô vào bán, Đ đứng ngoài chờ. Do chờ lâu không thấy S ra nên Đ đi về trước. Sinh vào bán xe nhưng không bán được nên điều khiển xe đến nhà chị Bùi Thị G bán xe. Chị G thấy có giấy tờ nên đồng ý mua với giá 900.000 đồng. S cầm tiền rồi đi bộ về nhà. Sinh tiêu hết 275.000 đồng, còn lại 625.000 đồng.
Ngày 08/5/2024 anh Nguyễn Đình H2 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS 16H7-5339.
Kết luận định giá tài sản số 09 ngày 13/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu sơn xanh, BKS 16K1- 3239, xe đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 4.200.000 đồng. 01 xe đạp mini sơn màu xanh, giỏ xe màu trắng, ốp hộp xích màu bạc, xe đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 300.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 14 ngày 03/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện K kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, BKS 16H7-5339 có trị giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 3.520.000 đồng. 01 xe máy điện, loại M133 - Xe rùa có trị giá tại thời điểm xảy ra vụ việc là 2.820.000 đồng.
Bị hại Phạm Thị L2 khai: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14/3/2024, chị điều khiển xe mô tô BKS 16H7-5339 thuộc quyền sở hữu của chị và chồng là anh Vũ Thọ H1 ra cánh đồng Đầm trong thuộc thôn T, xã N, huyện K để hái rau, chị dựng xe trên bờ, không có người trông coi, rồi xuống ruộng làm, khi lên bờ không còn xe. Sau khi sự việc bị phát hiện, làm rõ Nguyễn Kim Đ và Phạm Duy S đã lấy trộm xe của chị. Quá trình giải quyết, chị đã nhận lại xe đầy đủ, không yêu cầu bồi thường. Đề nghị cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ và S.
Bị hại Mạc Thị L3 khai: Sáng ngày 21/3/2024, bà điều khiển xe máy điện thuộc quyền sở hữu của bà đến cánh đồng thuộc thôn H, xã N để phun thuốc trừ sâu lúa của gia đình. Bà để xe ở rìa đường, không có người trông coi, bà đi xuống ruộng làm, khi lên thì không còn xe. Khi sự việc được làm rõ, bà biết S và Đ đã trộm cắp xe của bà mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Nay bà chưa được nhận lại xe nhưng gia đình Đ đã tự nguyện bồi thường cho bà 3.000.000 đồng, bà không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ và S.
Bị hại Bùi Duy N khai: Khoảng 17 giờ ngày 03/4/2024, anh điều khiển xe mô tô BKS 16K1-3239 thuộc quyền sở hữu của anh ra Nghĩa Trang của thôn để thắp hương người thân, anh dựng xe ở rìa đường, không có người trông coi, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe. Khi vào thắp hương được ít thời gian, anh nhìn ra không còn xe. Thấy vậy anh đi tìm xe nhưng không thấy nên ngày 04/4/2024 anh làm đơn trình báo Công an xã Đ. Quá trình giải quyết, anh được biết S và Đ đã trộp cắp xe của anh. Anh đã nhận lại xe và giấy đăng ký xe đầy đủ, anh không yêu cầu bồi thường. Đề nghị cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ và S.
Bị hại Nguyễn Thị Đ1 khai: Khoảng 10 giờ ngày 04/4/2024, bà đi xe đạp mini thuộc quyền sở hữu của bà ra cánh đồng, bà dựng xe ở gần Miếu Q1, không có người trông coi, bà đi xuống ruộng làm đến khoảng 11 giờ lên thì không còn xe. Bà đi tìm nhưng không thấy. Sự việc bị phát hiện, bà biết S là người cùng thôn và Đ trộm cắp xe của bà. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà còn nguyên vẹn, bà không yêu cầu bồi thường. Bà đề nghị cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ và S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị G khai: Khoảng 18 giờ ngày 03/4/2024, chị đang ở nhà thì có người nam thanh niên vào hỏi bán cho chị chiếc xe mô tô BKS 16K1-3239, có giấy tờ xe kèm theo, do chị thấy xe có giấy tờ nên chị nghĩ đó là xe của nam thanh niên và đồng ý mua với giá 900.000 đồng, là giá sắt vụn. Người đó không nói cho chị biết nguồn gốc xe do trộm cắp mà có. Sáng ngày 04/4/2024, chị lại thấy người này đi xe đạp mini đến nhà chị thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Sau đó chị biết nam thanh niên này tên S, là người đã trộm cắp xe bán cho chị vào tối ngày 03/4/2024. Vì vậy chị giao nộp chiếc xe mô tô BKS 16K1-3239 cho lực lượng Công an. Đối với số tiền 900.000 đồng, chị mua xe do Sinh bán, chị không yêu cầu S phải hoàn trả lại chị. Ngoài ra chị không yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cao Thị Q khai: Chị làm kinh doanh mua bán xe máy, xe điện các loại: Khoảng 16 giờ 30 phút gần cuối tháng 3 năm 2024, chị đang ở nhà thì có 02 nam thanh niên đến hỏi chị để bán xe máy điện loại M133, hai người nói là xe của một người không đi học nữa nên bán. Chị xem xe và trả 2.200.000 đồng. Người đó đồng ý bán. Sau khi mua xe, chị gặp khách mua nên chị đã bán cho họ, chị không quen biết người mua xe và chị cũng không xin số điện thoại của họ. Sau chị mới biết chiếc xe trên do Đ và S trộm cắp bán cho chị. Do chị đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết, không thu hồi lại được nhưng chị cũng không yêu cầu Đ và S phải hoàn trả lại chị số tiền chị đã mua xe 2.200.000 đồng. Ngoài ra chị không yêu cầu, đề nghị gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đình H2 khai: Anh làm nghề thu mua sắt vụn. Vào cuối giờ chiều ngày 14/3/2024, anh đang ở nhà thì có 02 nam thanh niên đi 02 xe mô đến hỏi bán cho anh 01 xe mô tô BKS 16H7-5339. Người thanh niên nói xe của gia đình hỏng, không đi được nên đem bán, anh đồng ý mua với giá 500.000 đồng. Sau đó anh mới biết chiếc xe mô tô anh mua là xe do Đ và S trộm cắp được mang bán cho anh. Anh đã nộp lại chiếc xe trên cho Cơ quan Công an để trả lại bị hại. Đối với số tiền 500.000 đồng, anh mua xe của S và Đ, anh không yêu cầu S và Đ trả lại. Ngoài ra anh không yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô BKS 16K1 - 3239 và 01 giấy đăng ký xe mô tô cho anh Bùi Duy N; trả lại 01 xe đạp mini màu sơn xanh cho bà Nguyễn Thị Đ1; trả lại 01 xe mô tô BKS 16H7-5339 cho bà Phạm Thị L2 là những chủ sở hữu hợp pháp. Đối với 01 xe máy điện, loại M133 - xe rùa, chị Cao Thị Q đã bán cho người khác (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) nên không thu hồi được. Số tiền 625.000 đồng của Phạm Duy S nộp lại do bán tài sản trộm cắp mà có, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Kim Đ đã tác động gia đình bồi thường 3.000.000 đồng cho bị hại Mạc Thị L3. Bà L3 không yêu cầu, đề nghị gì khác. Các bị hại Nguyễn Thị Đ1, Bùi Duy N, Phạm Thị L2 cùng chồng Vũ Thọ H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu, đề nghị gì và đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Kim Đ, Phạm Duy S. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị G, Nguyễn Đình H2, Cao Thị Q đều không yêu cầu Nguyễn Kim Đ, Phạm Duy S hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã mua xe của Đ và S.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đồng ý với Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra các bị cáo khai: Do không có tiền chơi Game nên bị cáo Đ đã rủ bị cáo S đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chơi Game. Ngoài ra không ai xúi giục các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất khi trộm cắp được tài sản thì cùng bán và chia đôi, mỗi bị cáo hưởng giá trị bằng nhau. Sau khi các bị cáo trộm cắp được tài sản mang đi bán, các bị cáo không nói cho những người mua tài sản biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Sự việc bị phát hiện, đã thu hồi được 03 chiếc xe trả lại cho 03 bị hại, còn lại 01 xe máy điện, loại M133 - Xe rùa của bị hại Luyến chưa thu hồi được, theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản thì chiếc xe trên trị giá 2.820.000 đồng nhưng bị cáo Đ đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường cho bị hại Luyến 3.000.000 đồng, số tiền thừa, bị cáo không yêu cầu nhận lại. Bị cáo Đ tự nhận chịu trách nhiệm bồi thường hết số tiền này, không yêu cầu bị cáo S phải trả lại 1.500.000 đồng, vì hoàn cảnh bị cáo S rất khó khăn. Bị cáo S đồng ý. Đối với số tiền 625.000 đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo S do bán tài sản trộm cắp của anh N mà có (đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý) thì đề nghị trả lại cho bị cáo S; bị cáo Đ không nhận lại số tiền này, bị cáo S đồng ý. Bị cáo Đ tự ý điều khiển xe mô tô thuộc quyền sở hữu của ông M (bố đẻ bị cáo) đi trộm cắp tài sản mà không hỏi ý kiến ông M nên ông M không biết. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất. Bà Bùi Thị L (mẹ đẻ bị cáo Đ) có mặt tại phiên tòa xác định, khi bị cáo Đ nhờ bà bồi thường 3.000.000 đồng cho bị hại L3, bà đã bỏ ra số tiền này. Do tình thương mẹ con, bà không yêu cầu bị cáo Đ hoàn trả lại bà. Bà bồi thường cho bà L3 thừa 180.000 đồng nhưng bà không yêu cầu nhận lại. Ngoài ra bị cáo Đ khai: Đang trong thời gian chờ Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy giải quyết về các hành vi trộm cắp tài sản này của bị cáo thì bị cáo lại thực hiện hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại quận K và bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận K, thành phố Hải Phòng từ ngày 17/10/2024 đến nay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bùi Thị G gửi đơn đề nghị xét xử vắng mặt đến Tòa án, trong đơn vẫn giữ nguyên lời khai, quan điểm như trước, không yêu cầu bị cáo S trả lại 900.000 đồng, chị tặng cho S toàn bộ số tiền này.
Bản cáo trạng số 67/CT-VKS-KT, ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố các bị cáo Nguyễn Kim Đ, Phạm Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; Điều 101; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Duy S từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên không đặt ra trách nhiệm cho các bị cáo.
Về xử lý vật chứng : Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, trả lại bị cáo Phạm Duy S 625.000 đồng là tiền bán xe cho chị G, tuy nhiên chị G không yêu cầu bị cáo hoàn trả nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý Trương Thị H bào chữa cho bị cáo Phạm Duy S không tranh luận về tội danh và khung hình phạt; tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến điều kiện hoàn cảnh phạm tội của bị cáo. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn hạn chế, mặt khác mẹ bị cáo đã chết, bố bị cáo thường xuyên đi làm kiếm tiền để lo cho cuộc sống sinh hoạt gia đình nên ít có thời gian quan tâm đến bị cáo. Với xã hội như ngày nay mà bị cáo không được học tập, trình độ văn hóa 0/12, dẫn đến kém hiểu biết, bị rủ rê trộm cắp tài sản. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phạm tội do lạc hậu, quy định tại điểm m khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất, có thể được cải tạo tại địa phương, giao cho gia đình và chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân tốt.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bào chữa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được, Kết luận định giá tài sản và nội dung bản Cáo trạng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Trong các ngày 14,21/3/2024 và ngày 03,04/4/2024 tại khu vực cánh đồng các xã N, Đ, D huyện K; Nguyễn Kim Đ và Phạm Duy S đã cùng nhau lén lút 04 lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của 04 chủ sở hữu (trong đó ba lần trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng), gồm: 01 xe mô tô BKS 16H7 - 5339 của vợ chồng bà Phạm Thị L2, trị giá 3.520.000 đồng; 01 xe máy điện của bà Mạc Thị L3, trị giá 2.820.000 đồng; 01 xe mô tô BKS 16K1 - 3239 của anh Bùi Duy N, trị giá 4.200.000đ; 01 xe đạp trị giá 300.000 đồng của bà Nguyễn Thị Đ1. Tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm đoạt là 10.840.000 đồng (trong khoảng từ 2.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng). Như vậy các bị cáo Nguyễn Kim Đ, Phạm Duy S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị tại phiên tòa.
[3] Tính chất vụ án ít nghiêm trọng; hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo để phòng ngừa tội phạm.
Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo Đ là người đề xuất nên có vai trò cao hơn bị cáo S.
[4] Nhân thân các bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội này, các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Đ có hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại quận K và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận K, thành phố Hải Phòng, theo Lệnh tạm giam của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận K.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã cùng nhau thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản, trong đó 03 lần đều có giá trị tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên (là phạm tội 02 lần trở lên). Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo Đ còn xúi giục bị cáo S (là người dưới 18 tuổi phạm tội) nên bị cáo Đ còn phải chịu thêm tình tiết tăng nặng này theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả và đầu thú về hành vi phạm tội nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo S về áp dụng tình tiết giảm nhẹ là phạm tội do lạc hậu đối với bị cáo S.
[7] Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người dưới 18 tuổi, phạm tội ít nghiêm trọng nhưng các bị cáo đã phạm tội nhiều lần, do đó cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Vì vậy không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo S được cải tạo tại địa phương.
[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đ đã tác động gia đình bồi thường 3.000.000 đồng cho bị hại Mạc Thị L3 là giá trị chiếc xe máy điện chưa thu hồi được; bà L3 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Các bị hại khác đã nhận lại tài sản đầy đủ, không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã mua xe nên không đặt ra trách nhiệm cho các bị cáo.
[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô BKS 16K1 - 3239 và 01 giấy đăng ký xe mô tô cho anh Bùi Duy N; trả lại 01 xe đạp mini màu sơn xanh cho bà Nguyễn Thị Đ1; trả lại 01 xe mô tô BKS 16N5 – 0626 cho ông Nguyễn Kim M; trả lại 01 xe mô tô BKS 16H7-5339 cho bà Phạm Thị L2 là những chủ sở hữu hợp pháp. Ngoài ra còn 01 xe máy điện, loại M133 - xe rùa của bà L3 không thu hồi được. Đối với số tiền 625.000 đồng (đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý) là tiền của chị G mua xe do bị cáo S bán nhưng chị G tặng cho bị cáo S. Tại phiên tòa, giữa bị cáo S và bị cáo Đ thống nhất số tiền 625.000 đồng thuộc quyền của bị cáo S. Do đó trả lại cho bị cáo S theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
[11] Về án phí: Các bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[12] Trong vụ án này, anh Nguyễn Đình H2, chị Bùi Thị G, chị Cao Thị Q có hành vi mua xe mô tô BKS 16H7 - 5339; xe mô tô BKS 16K1 - 3239; xe máy điện, loại M133 - Xe rùa của các bị cáo nhưng không biết tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý. Ông Nguyễn Kim M không biết bị cáo Đ lấy xe mô tô BKS 16N5 - 0626 của mình đi lấy trộm tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật. Đối với người tên T cho bị cáo Đ mượn xe mô tô ngày 14/3/2024, T không biết Đ sử dụng xe đi lấy trộm tài sản; ngày 21/3/2024, T cùng Đ và S đi thay ổ khóa xe máy điện, bán xe máy điện nhưng không biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; điểm g, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Kim Đ.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Duy S.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Kim Đ, Phạm Duy S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Phạm Duy S; 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm các bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, trả lại 625.000₫ (sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) cho bị cáo Phạm Duy S (theo Ủy nhiệm chi lập ngày 14/10/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện K) nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
Bản án số 77/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 77/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim Đ: 15 (mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
